Tin tức

BẢN TIN PHÁP LUẬT TUẦN 32/2018 Tổng hợp các văn bản được ban hành từ ngày 30/7 đến - 05/8/2018

 

Biên soạn, tổng hợp: Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ
Website: http://tuphaptamky.gov.vn
Facebook: tuphaptamky
Fanpage: https://www.facebook.com/tuphaptamky.gov.vn/
          I/ VĂN BẢN TRUNG ƯƠNG

       1. Nội dung tuyên truyền bảo vệ chủ quyền và phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam giai đoạn 2018 – 2020

         
Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 930/QĐ-TTg Phê duyệt Đề án tuyên truyền bảo vệ chủ quyền và phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam giai đoạn 2018 – 2020, theo đó nội dung tuyên truyền bảo vệ chủ quyền và phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam giai đoạn 2018 – 2020 tập trung chủ yếu vào các nội dung sau:

 

1. Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến biển, đảo.
2. Các văn bản pháp luật quốc tế, thỏa thuận song phương và đa phương  giữa Việt Nam với các quốc gia, các tổ chức quốc tế có liên quan đến biển, đảo.
3. Những chứng cứ lịch sử, pháp lý khẳng định chủ quyền biển, đảo của Việt Nam  đối với 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa; vị trí, vai trò, tiềm năng của biển, đảo Việt Nam.

Xem tiếp...

 

Tổng hợp các văn bản quan trọng có hiệu lực trong tháng 8 năm 2018

BẢN TIN PHÁP LUẬT THÁNG 8/2018
Tổng hợp các văn bản quan trọng
có hiệu lực trong tháng 8 năm 2018
Biên soạn, tổng hợp: Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ
Website: http://tuphaptamky.gov.vn
Facebook: tuphaptamky
Fanpage: https://www.facebook.com/tuphaptamky.gov.vn/
I. VĂN BẢN TRUNG ƯƠNG
  1. Quy định mới về Điều kiện đối với thương nhân kinh doanh mua bán khí
          Ngày 15/6/2018, Chính phủ ban hành Nghị định 87/2018/NĐ-CP về kinh doanh khí, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/8/2018, theo đó  Điều kiện đối với thương nhân kinh doanh mua bán khí gồm:
–  Là thương nhân được thành lập theo quy định của pháp luật;
– Có bồn chứa khí đáp ứng các quy định về an toàn hoặc có chai LPG đáp ứng đủ điều kiện lưu thông trên thị trường hoặc có hợp đồng thuê bồn, thuê chai LPG;
–  Đáp ứng các điều kiện về phòng cháy và chữa cháy theo quy định của pháp luật.
          Đối với thương nhân kinh doanh mua bán khí qua đường ống ngoài đáp ứng các điều kiện quy định nêu trên còn phải có đường ống vận chuyển khí và trạm cấp khí đáp ứng đầy đủ các điều kiện về an toàn, phòng cháy và chữa cháy theo quy định của pháp luật.
           Đối với thương nhân kinh doanh mua bán LNG ngoài điều kiện quy định nêu trên phải có trạm cấp LNG hoặc trạm nạp LNG vào phương tiện vận tải đáp ứng đủ các điều kiện về an toàn, phòng cháy và chữa cháy theo quy định của pháp luật.
2. Quy định về liên kết giáo dục với nước ngoài

          Ngày 06/6/2018, Chính phủ ban hành Nghị định 86/2018/NĐ-CP quy định về hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục, theo đó:

          – Đối tượng liên kết giáo dục: Cơ sở giáo dục mầm non tư thục, cơ sở giáo dục phổ thông tư thục của Việt Nam và cơ sở giáo dục hoạt động hợp pháp ở nước ngoài, được cơ quan, tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài công nhận về chất lượng giáo dục.

Xem tiếp...

BẢN TIN PHÁP LUẬT TUẦN 30/2018: Tổng hợp các văn bản được ban hành từ ngày 16/7 đến - 22/7/2018

Biên soạn, tổng hợp: Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ
Website: http://tuphaptamky.gov.vn
Facebook: tuphaptamky
Fanpage: https://www.facebook.com/tuphaptamky.gov.vn/
          I/ VĂN BẢN TRUNG ƯƠNG
 
1. Thay đổi điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng
          Ngày 16/7/2018, Chính phủ đã ra Nghị định 100/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc các lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng.

          Đáng chú ý, điều kiện chung cấp chứng chỉ hành nghề về xây dựng đã được thay đổi so với trước đây. Cụ thể như sau:
          - Đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng hạng II phải có trình độ đại học thuộc chuyên ngành phù hợp, có kinh nghiệm tham gia công việc phù hợp với nội dung đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề từ 04 năm trở lên, trước đây là 05 năm;
          - Đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng hạng III phải có trình độ đại học thuộc chuyên ngành phù hợp, có kinh nghiệm tham gia công việc phù hợp với nội dung đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề từ 02 năm trở lên với người có trình độ đại học (trước đây là 03 năm); từ 03 năm trở lên với người có trình độ cao đẳng hoặc trung cấp (trước đây là 05 năm).

Xem tiếp...

Từ thành phố Buôn Ma Thuột nghĩ về bản sắc văn hóa đô thị Tây Nguyên

Đối với một thành phố xây dựng và phát triển trên địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số, vấn đề bảo tồn văn hóa truyền thống bao gồm: bảo tồn di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, duy trì sự phát triển tiếp nối của văn hóa truyền thống, phát huy văn hóa truyền thống trong điều kiện đô thị hóa và hiện đại hóa. 

Thứ nhất, bảo tồn di sản văn hóa, vật thể và phi vật thể. Các dân tộc thiểu số sở hữu di sản văn hóa vật thể tương đối khiêm nhường, chủ yếu là kiến trúc cư trú và vật dụng đời sống. Di sản văn hóa phi vật thể của họ phong phú hơn nhiều, với đặc điểm nổi trội là chưa có giới hạn rõ rệt giữa văn hóa dĩ vãng và văn hóa hiện tại. 

Đối với di sản văn hóa vật thể, phù hợp hơn nếu đặt vấn đề bảo tồn không phải là di tích văn hóa và kiến trúc, như đối với các dân tộc khác (có giá trị trước hết về niên đại), mà bảo tồn những kiến trúc tiêu biểu hoặc điển hình, đặc biệt không gian cộng đồng buôn làng, cùng các đồ vật phục vụ đời sống và sản phẩm đặc trưng của văn hóa vật thể. 


Trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột 

Không thể đặt vấn đề bảo tồn bất biến mô hình cư trú và mô hình cộng cư hiện hữu của các dân tộc thiểu số, cũng như hoàn toàn không thể bảo tồn bất biến, chỉ bởi hoài niệm, những ngôi làng cổ và cũ, với tư cách là những di sản kiến trúc và đời sống xã hội nông thôn, như Đường Lâm ở Hà Nội hoặc Phước Tích ở Thừa Thiên- Huế. Cũng vậy, mang tính thực tế và khả thi, khi chọn một vài buôn làng của dân tộc ít người, có những công trình kiến trúc đặc trưng và khung cảnh cộng cư đặc trưng, để bảo tồn lâu dài, không có những biến đổi lớn. Không thể và không nên bảo tồn buôn làng như một bảo tàng ngoài trời, mà phải bảo tồn trong sự tiếp nối cuộc sống của dân cư. Hễ cuộc sống bình thường tiếp tục, thì biến đổi là sự đương nhiên. Để bảo tồn và tiếp tục cuộc sống, nhất thiết phải có sự điều tiết phát triển. 

Làng ở miền xuôi, buôn ở Tây Nguyên trong dòng tiến hóa tăng tốc, dứt khoát và không thể đảo ngược. Điều kiện sống, cộng đồng và cùng con người biến đổi, hình thái kiến trúc cư trú và cấu trúc cộng sinh biến đổi theo. Nhanh hoặc chậm, quá trình cải tiến, kế thừa, đảo thải, tiếp thu, bồi bổ và cách tân, sẽ diễn ra. Quỹ "gien" của giống nòi, bản sắc văn hóa, vừa bảo lưu vừa biến đổi, tìm đến những hình thái tồn tại và biểu hiện mới, song không dễ gì biến mất. Bảo tồn- hoài niệm- tiến bộ là một chuỗi tự nhiên.

Bảo tồn trước hết phải nhắm vào các đối tượng và những giá trị đích thực, thuộc về quá khứ của mỗi dân tộc và là tài sản của họ, chứ không phải là bảo tồn một cái gì đó "lừng chừng", được tạo ra hoặc bị quy nạp một cách thiếu hiểu biết hoặc nhầm lẫn. Dân tộc học và nhân học cùng phương pháp luận lịch sử là nền tảng của các quan điểm bảo tồn và hoạt động bảo tồn. Trong hiểu biết phổ biến hiện nay, nói đến văn hóa các dân tộc Tây Nguyên, là người ta nghĩ ngay và dựng ngay hình ảnh cái nhà "rông" hoặc, khi thưởng ngoạn âm nhạc Tây Nguyên, lại nghĩ ngay tới các ca khúc của Trần Tiến và Nguyễn Cường, tuy rất xuất sắc, song là những sáng tạo, sản sinh bởi những cảm xúc Cao Nguyên.

Nên chọn những buôn, những kiểu nhà thực sự đặc trưng, thực sự là sản phẩm của tiếp biến lịch sử, của đồng bào các dân tộc và bộ tộc Tây Nguyên, để giữ lại. Đối tượng này thì bảo quản theo bài bản bảo tàng học, đối tượng khác thì vừa để giới thiệu lại vừa để người dân sinh sống bình thường. Nên tránh dần mô hình những buôn làng bị "du lịch hóa" theo lối mòn, - buôn không phải là buôn, làng không phải là làng, phố không ra phố, mà là một cái gì đó không làm người ta tiếp cận được với cái "thật". Văn hóa du lịch hiện nay chính là sự thâm nhập vào cái "thật" lịch sử và cái "thật" hiện hữu. Tuy nhiên, khai thác du lịch chưa hẳn là mục tiêu số một của bảo tồn và di sản văn hóa.

Các buôn ở thành phố Buôn Ma Thuột và Pleiku được xây dựng từ trong những năm 60 của thế kỷ trước, từ những hoàn cảnh lịch sử nhất định. Về phương diện tiến hóa, chúng là những cấu trúc cộng cư có quy hoạch, có hình thái cư trú và hình thái cuộc sống chuyển biến vượt bậc so với lịch sử. Về phương diện đô thị, buôn ở đây là những thiết chế chuyển tiếp từ buôn sang thị. Trong hơn nửa thế kỷ qua, đồng bào đã bước vào quá trình đô thị hóa và thành thị hóa ở chừng mực và những hình thức nào đó, tuy chậm rãi, song thực sự họ đã bước vào. Những căn nhà dài ở đây đã cải tiến rất rõ so với những kiến trúc tương tự ở các buôn truyền thống. Lối sống và làm ăn cũng khác biệt.

Buôn trong và kế cận thành phố là những thực thể đặc trưng, sẽ còn tồn tại lâu dài trong sự chuyển hóa về hướng đô thị hóa và hiện đại hóa, không thể tránh nổi và không thể đảo ngược. Có thể đặt vấn đề giữ lại một - hai buôn có đặc điểm và giá trị hơn cả về các phương diện nào đó, song đối với tất cả vài chục buôn còn lại phải là cải tạo, thích ứng và hiện đại hóa.

Không thể chống lại quá trình hiện đại hóa tự thân, và cũng không thể chống nổi xu hướng người từ nơi khác đến mua đất và làm nhà. Mật độ xây dựng sẽ tăng và cảnh quan chung sẽ thay đổi. Chỉ có thể quản lý phát triển các buôn trong đô thị bằng cách chấp nhận những sự vận động tự nhiên của chúng, chủ động can thiệp bằng cách hoạch định các hướng phát triển sát thực tế và bởi vậy mang tính khả thi. Cần đưa ra những hướng dẫn để đồng bào chuyển đổi dần phương thức sản xuất, phù hợp hơn với điều kiện đô thị, cải tiến và thích ứng nếp sống và đặc biệt, hướng dẫn họ hiện đại hóa nhà ở và tổ chức không gian cộng cư đô thị hóa. Quản lý bằng sự hướng dẫn chứ không bằng mệnh lệnh ngăn cấm hoặc cho phép.

Các buôn hiện nay, nếu được cải tạo và hiện đại hóa bằng sự điều tiết, có thể trở thành những thực thể đô thị, ngang bằng và bình đẳng với các thực thể khác. Hơn thế nữa, chúng sẽ là những không gian xây dựng thấp tầng và xanh, góp phần hình thành sự chuyển hóa mềm từ thiên nhiên sang đô thị. Buôn, trong trường hợp ấy, sẽ góp phần quan trọng cho Buôn Ma Thuột có được diện mạo và hình thái đô thị không lặp lại. 


Nhà dài của đồng bào Êđê phục dựng trong Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Thứ hai, bảo tồn văn hóa truyền thống của cộng đồng dân tộc thiểu số trong điều kiện đô thị hiện đại. Ở đây cần xem xét hai cục diện: Sự duy trì và tiếp tục phát triển; sự phát huy và đóng góp cho phát triển thành phố với tư cách một nhân tố cấu thành đặc trưng.

Cộng đồng các dân tộc thiểu số tiến hóa tăng tốc trong guồng của những vận động tự nhiên: miền xuôi hóa, đô thị hóa, thành thị hóa và cả quốc tế hóa. Những vận động trên sẽ diễn ra với tốc độ khác nhau, song chắc chắn là đồng thời. Chúng vừa tạo dòng chảy mới cho sự phát triển của cộng đồng của các dân tộc thiểu số, vừa tạo ra những thách thức to lớn đối với sự bảo lưu văn hóa của họ. Tiến hóa và biến hóa là tất yếu. Sự tiếp thu và đào thải, hội nhập sẽ làm nảy sinh những sắc thái và giá trị mới. Quỹ "gien" giống nòi và quỹ "gien" văn hóa dân tộc sẽ bồi bổ và phong phú lên, định hình ở giai đoạn mới. Chuyển về sống ở đô thị, ngay người miền xuôi, vốn có gốc thôn quê, cũng không dễ gì trở thành người thành thị. Bởi sống ở làng, họ quen hoạt động trong một không gian tương đối khép, họ quen với những cư xử và ứng xử giữa những người chung huyết thống hoặc bà con xóm giềng. Khi chuyển về đô thị, họ buộc phải sống giữa cộng đồng những người tứ xứ, khác nhau nhiều hơn là giống nhau, xử sự và ứng xử theo những ước lệ hoặc những gì đã thành luật. Văn hóa đô thị, hệt cái sàng và cái rây bột, gạn lọc dần, kết thành tinh và thành lớp. Người dân tộc ở đô thị, phải trải qua quá trình thích ứng nhọc nhằn và dài lâu hơn. Họ chuyển từ cái buôn, vốn chưa kịp định hình toàn diện như cái làng sang thẳng thành phố, một tổ chức cộng cư khác biệt tuyệt đối. 

Người dân tộc, chủ nhân của địa bàn thành phố, vừa đứng trước nhu cầu duy trì và phát triển tự nhiên, lại vừa không thể tự tách mình ra khỏi cái dòng chảy đô thị hóa. Đô thị hóa khuôn khổ vật chất của cuộc sống đơn giản hơn nhiều so với đô thị hóa bản thân họ. Họ buộc phải chấp nhận sự biến đổi cho phù hợp với mô hình và những chuẩn mực của đời sống đô thị là chính, chứ họ không thể tác động đáng kể đến sự tạo dựng văn hóa đô thị đặc trưng cho thành phố. Có lẽ, chính sự chung sống của các cộng đồng dân cư từ các địa phương, trong đó có sự tham gia với những khác biệt nổi trội của cộng đồng dân tộc thiểu số, sẽ hun đúc văn hóa đô thị Buôn Ma Thuột có những sắc thái riêng.

Không thể ảo tưởng về sự bảo lưu bất biến những truyền thống văn hóa của người dân tộc thành thị hóa. Cũng không tưởng việc tồn tại song song mà không có hội nhập văn hóa của con người miền xuôi và văn hóa của người dân tộc. Hội nhập là quá trình tự nhiên, thành thị thúc đẩy và xúc tác hơn cả quá trình ấy.

 
Bảo tàng Đắk Lắk 

Công cuộc đô thị hóa và hiện đại hóa đô thị đang diễn ra với vận tốc chưa từng thấy trong lịch sử, vừa tạo nên những quỹ vật chất -kỹ thuật- kiến trúc đô thị to lớn, vừa bộc lộ sự đồng nhất tương đối trong những chuẩn mực phát triển, cùng với đó là sự đơn điệu hóa, sự mờ nhạt dần những sắc thái riêng mà chúng ta vốn dễ dàng nhận ra ở mỗi thôn làng, ở mỗi vùng quê và thành thị xưa cũ.

Thực ra, quá trình vĩ mô hóa bản sắc văn hóa, bản sắc kiến trúc của những thiết chế cộng cư, từ thôn quê đến thành thị, đang tiếp biến mau lẹ, vượt quá khả năng tiếp nhận và tiêu hóa của chúng ta. Cả trăm năm, bản sắc lắng đọng chậm rãi trong dòng chảy của thời gian. Nay, bản sắc biến hóa, định hình vội vã trong dòng chảy vội vã và ngày càng tăng thôi thúc. Nặng trĩu bởi hoài niệm, chưa kịp tăng tốc để rượt đuổi nhịp chạy của thời gian, ta hoang mang: nơi này thì mất bản sắc, nơi kia thì không có bản sắc.

Không phải thế. Chẳng có ai mà không có bản thể. Chẳng có vùng đất nào mà không có những cái riêng, duy nhất của mình. Chẳng có thành phố nào mà không có những khác biệt trong so sánh, không có những cải tiến sát gần với hoặc đã kịp thấm đậm bản sắc. Buôn Ma Thuột, thành phố trẻ, thành phố phát triển nhanh, bộc lộ rõ bản sắc của mình. Điều này dễ nhận ra, nếu ta thật sự khách quan, nếu ta gạt bỏ định kiến và không nặng về hình thức.

Bản sắc văn hóa, bản sắc đô thị là sản phẩm của lịch sử, thời đại nào cũng ít nhiều tạo ra và để lại dấu ấn của mình. Bản sắc không bất biến, không tĩnh tại, mà biến đổi, vận động như một sự vật, vừa giữ vừa thải, vừa tiến hóa và vừa định hình, tuyệt đối không đóng băng. Bản sắc cần cho phát triển như một nhân tố động lực. Cần cho sự khẳng định trong cạnh tranh phát triển. Cần cho sự tiếp tục và cho sự sản sinh từ trường, mà mỗi đô thị có và phải là. Phát triển và bồi đắp bản sắc không bởi vì nó. Các yếu tố, từ ngoài vào và từ trong ra, hợp lực kết thành bản sắc. Ta chỉ có thể góp phần cho sự nảy nở và khẳng định bản sắc. Ta chớ nên đặt nó thành mục tiêu, bởi động cơ ấy dễ dẫn đến chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa thủ cựu. Nhất là trong kiến trúc. Chớ nên để hoài niệm, đứa con của tâm thức riêng tư, trở thành cái thước đo cứng nhắc, đem áp vào thân thể của mỗi thành phố, mỗi cộng đồng đô thị, vốn có cuộc sống chẳng hề giống ai.

Thời nay, hơn khi nào hết, cần dứt khoát chọn và lao thẳng về hướng phát triển. Thời mới, tầng bậc mới, ắt sẽ sản sinh bản sắc mới và những giá trị mới. Người Nhật Bản và người Hàn Quốc, càng tân tiến càng bộc lộ bản sắc, sâu và bền, dễ nhận biết.

Chúng ta hình như lo lắng có phần quá mức về duy trì bản sắc, điều đó có thể ngăn cản bước tiến lên, cái mà ta cần hơn cả ở thời nay.

Buôn Ma Thuột có những xuất phát điểm và những tiềm năng đủ sức mạnh sản sinh, để trở thành một thành phố có văn hóa đô thị và kiến trúc đặc sắc. Đó là:

Tài nguyên thiên nhiên: một vùng đất bao la, màu mỡ và chưa bị khai thác nhiều; địa hình, địa thế và địa mạo phong phú, đặc sắc và tiềm ẩn những khả năng tạo diện mạo đặc trưng cho đô thị.

Sức mạnh về tiềm năng kinh tế: cây công nghiệp ở thế đại canh và chuyên canh như cà phê, cao su, h ồ tiêu, cây ăn quả… là cơ sở cho một nền công nghiệp chế biến quy mô lớn và nổi trội.

Tài nguyên nhân văn: cộng đồng các dân tộc thiểu số và các truyền thống văn hóa độc đáo, đặc biệt sống động của họ; sự cộng sinh của dân cư các vùng miền đất nước; sự ngự trị của sức mạnh tinh thần Cao Nguyên, thể hiện ở sức bật và sức vươn tới cái mới.

Sự tích lũy và những giá trị kiến trúc đô thị đã được tạo lập trong một thời gian không dài và tương đối cơ bản. Đặc biệt đã bộc lộ những nét riêng.

Có thể nêu ra đây một số đặc điểm nổi trội của bức tranh kiến trúc đô thị Buôn Ma Thuột:

- Thành phố đang mở mang vượt tầm một đô thị hàng tỉnh, đô thị tỉnh lỵ, vươn rộng và mạnh ra các không gian mới, tạo ra những vùng đất gắn kết chặt chẽ bởi hạ tầng và thuận lợi cho xây dựng với qui mô lớn.

- Đặc trưng hình thái học đô thị và cảnh quan đô thị đã định hình khá rõ nét: Sự chuyển hóa mềm các không gian đô thị có mật độ xây dựng đặc và loãng khác nhau, có hình thái kiến trúc khác nhau; sự kết hợp khá nhuần nhị những biến thái của địa hình, địa mạo với kiến trúc của đường phố và ô phố; sự hiện hữu các không gian xanh có quy hoạch và được chăm sóc, bên cạnh các không gian xanh tự nhiên; bức tranh toàn cảnh của toàn thành phố nhìn từ trên cao gây nhiều thiện cảm, với sự hiện diện chủ yếu của các mái nhà dốc và lợp ngói đỏ, khác với nhều thành phố khác, ức chế ta bởi vô vàn những mái tôn và những bồn chứa nước inox.

- Kiến trúc mới xây dựng trong khoản 2 thập kỷ qua gây ấn tượng tốt về tính lành mạnh và sự mới mẻ về kiểu cách; không đến nỗi đập vào mắt những tòa nhà giả cổ kiểu Tây rất phổ biến ở miền Bắc; chất lượng thi công và hoàn thiện tốt.

- Thành phố được chăm sóc, xây cất khá quy củ, tính tự phát trong xây dựng chưa ở mức thách thức. Đã xuất hiện những đoạn phố, những không gian nhỏ có diện mạo thành thị. Trình độ thẩm mỹ đô thị có phần vượt nhiều thành phố hành tinh khác. Điều này nhận thấy rõ ở sự bài trí các tiệm cà phê, các nhà hàng, cửa hàng và văn phòng, ở không gian trung tâm thành phố…

- Về phương diện ngôn ngữ kiến trúc, ở Buôn Ma Thuột phổ biến sự vay mượn và biến tấu hình ảnh cái mái nhà dài của dân tộc Ê Đê. Trong một số trường hợp, giải pháp này có thể nói là thành công, do sự phù hợp với tính chất công trình, do sự tạo dáng tốt. Tuy nhiên nhận thấy khá nhiều trường hợp khiên cưỡng.

Hình dáng mái nhà có thể là một mô-tip thị sở để sáng tác và tạo ra nét riêng biệt về hình thức, đặc thù cho kiến trúc đô thị cao nguyên, song không đủ để tạo ra bản sắc cho kiến trúc Buôn Ma Thuột. Sự biến hóa trong kiến trúc hiện đại các đường nét đặc trưng của kiến trúc dân tộc Tây Nguyên chỉ có thể tạo nên những tín hiệu hình thức, dễ nhận biết và dễ nhớ, song không thể coi đó là biểu hiện đầy đủ của kiến trúc mới. Chúng ta có thể coi đó là biểu hiện thấm nhuần tinh hoa và tinh thần cốt lõi của văn hóa, của kiến trúc các dân tộc bản địa, mang và nhập chúng một cách tự nhiên vào sáng tạo kiến trúc ngày nay. Mọi sự nhại lại giới hạn với chủ nghĩa hình thức.

Đi theo chiều hướng nhại lại hời hợt hình thức, ta có thể logo hóa kiến trúc. Chỉ những công trình kết hợp nhuần nhị sự phát huy và sự tìm tòi, mới có thể trở thành sản phẩm đích thực. Một số ít trong số đó có thể trở thành logo cho thành phố.

Chỉ có thể xây dựng một thành phố có bản sắc, cả về đời sống cộng đồng thành thị và cả về diện mạo kiến trúc, nếu ta đi lên và kiến tạo nó từ sự gợi mở của tài nguyên thiên nhiên, từ sự tích lũy văn hóa bản địa và văn hóa cộng đồng đặc trưng, từ quỹ kiến trúc đô thị đã hình thành và từ sự bộc lộ thị sở những ưu việt, từ những chủ trương và các chương trình mở mang thành phố có tính nhất quán và có tầm nhìn, những đòi hỏi và tìm tòi bền bỉ của giới sáng tác địa phương. 

Điều này làm ta yên tâm hơn cả trong sự khởi sắc nhanh chóng của Buôn Ma Thuột và của đô thị Tây Nguyên khác, bộc lộ sự tìm tòi dẫn tới bản sắc./. 

GS.TS.KTS. Hoàng Đạo Kính 
(Bài đăng trong Tạp chí Quy hoạch Đô thị số 28-2017

Nông thôn mới là của ai?

Viết email

THỨ NĂM, 15 THÁNG 9 2016 10:08 THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN

Một khi đã xác định đúng đắn mục tiêu của chương trình thì việc xây dựng nông thôn mới sẽ sát với nhu cầu thực tế hơn và khả thi hơn, không phải tốn quá nhiều tiền cũng có thể làm được.  

Nông thôn mới là của ai?

Chương trình xây dựng nông thôn mới đã được triển khai một thời gian dài. Xã thi đua với xã, huyện thi đua với huyện, tỉnh này thành nọ cũng thi đua. Biết bao buổi lễ “mừng công” xã đạt chuẩn, huyện đạt chuẩn được đưa lên báo đài, đưa vào trong các báo cáo thành tích. Bỗng dưng, đùng một cái, báo đài đưa tin, các hội nghị đánh giá, bên cạnh mặt được thì còn biết bao là bất cập, nhất là chuyện nợ nần vì lỡ “vung tay quá trớn”, không biết “liệu cơm gắp mắm” như ông bà mình từng cảnh tỉnh. 


Cần nhận thức rằng, nông thôn mới là của người dân, hướng đến phục vụ nhu cầu thiết thân của người dân, đó là nâng cao thu nhập của người dân.
 (Ảnh: Lê Hoàng Vũ) 

Tất cả, có lẽ bắt đầu từ nhận thức về mục tiêu của chương trình. Nông thôn mới là gì, cho ai, vì ai? Có lẽ bắt đầu từ sự suy nghĩ rằng nông thôn mới là phải có hình thức mới - những thứ có thể đong, đo, đếm được: con đường, cây cầu, kênh mương, trụ sở, chợ búa, trường học, trạm y tế, thiết chế văn hóa... Và thế là rơi vào cái mà có người gọi là “tư duy cái hộp đựng”, ám chỉ đến việc khi đầu tư thường chỉ chú ý đến công trình xây dựng - “cái vỏ”, mà không chú ý đến cái “ruột” - hoạt động vận hành của công trình đó, hay cũng có thể nói chỉ lo phần “xác” mà thiếu nghĩ đến phần “hồn”. Nhìn đây đó, không khó để nhận ra nhiều công trình xây dựng rất quy mô, nhưng hoạt động thì nghèo nàn, đơn điệu, sai chức năng. Mà cái “vỏ” lớn thì chi phí vận hành cũng lớn: điện nước, bảo trì, sơn sửa... còn hiệu quả hoạt động và ai sử dụng thì... bỏ ngỏ.

Tất nhiên, xã nông thôn mới cần đầu tư nhiều công trình phục vụ dân sinh. Nhưng suy cho cùng, đó chỉ là phần “xác”- là điều kiện cần. Phần “hồn” - điều kiện đủ - là nội dung hoạt động mới là cái đáng quan tâm ngay từ bước chuẩn bị đầu tư nhưng chưa thật sự được coi trọng.

Vẫn có cách thức tổ chức tốt hơn nếu biết thay đổi cách nghĩ. Nhất là, người lãnh đạo phải nhận thức rằng, nông thôn mới là của người dân, hướng đến phục vụ nhu cầu thiết thân của người dân, đó là nâng cao thu nhập của người dân. 

Không phải là trường học mới, mà là chất lượng dạy và học. Không phải là trạm y tế mới, mà là thái độ tận tụy của người thầy thuốc, là sự thuận tiện trong khám chữa bệnh cho người dân. Không phải là thiết chế văn hóa mới, mà là sinh hoạt của cộng đồng dân cư. Không phải là trụ sở làm việc mới, phương tiện làm việc hiện đại, mà chính là tinh thần mẫn cảm, thân thiện, là nụ cười, là tiếng cám ơn, là lời xin lỗi thật lòng của cán bộ, công chức với người dân. Không phải là cổng làng hoành tráng, mà trong đó người dân có tinh thần tương thân tương ái, biết tự chủ, tự lực, tự cường, biết hợp tác với nhau trong cuộc sống và trong sản xuất, chứ đừng đeo đẳng mãi nếp nghĩ “đèn nhà ai nấy sáng”.

Có như vậy bà con mình mới có điều kiện giúp nhau để từ nghèo nàn lên khấm khá, rồi từ khấm khá trở nên giàu có hơn. Đó chính là phần “hồn”, là mục tiêu cuối cùng của chương trình xây dựng nông thôn mới.

Đi về cơ sở, người viết thường nghe lãnh đạo địa phương than vãn không có “sân chơi” cho thanh thiếu niên, nên các phong trào văn hóa, thể dục, thể thao không phát triển được, và thường quy kết đó là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn trong xã hội nông thôn. Có phải như vậy không?

Người viết cũng có dịp tham dự đêm giao lưu của thầy trò một trường đại học ở một xã cù lao. Chỉ với vài băng ghế học sinh ghép vào nhau, trải một tấm nhựa lên, treo một cái phông là đã có một sân khấu ca hát vui vẻ, người xem hòa mình vào buổi sinh hoạt sôi động. “Sân chơi” đâu phải là công trình quy mô gì hoành tráng lắm đâu. Có thể chỉ là một bãi đất trống, có thể là sân trụ sở ủy ban nhân dân xã, có thể là sân một ngôi trường. Chưa có sân bóng đủ tiêu chuẩn thì một khuôn viên nhỏ cũng có thể chơi bóng đá 5-7 người, chơi bóng chuyền, cầu lông... Mỗi khóm, ấp không quá khó để tìm ra những khuôn viên như vậy. Ở bất kỳ đô thị nào đều chắc chắn không thiếu quảng trường, hoa viên để cộng đồng đến sinh hoạt, vui chơi.

Mỗi khi tổ chức các hoạt động thì trong tiềm thức chúng ta hay nghĩ đến sự hoành tráng, phải tập hợp được vài trăm người. Sao không nghĩ đến việc chỉ vài chục người đã là một cuộc sinh hoạt được rồi, quy mô ít thì dễ linh hoạt, chi phí tốn kém ít hơn. Càng làm lớn thì nào là huy động người, sân khấu, phông màn, bàn ghế, mỗi thứ một chút, tốn kém ngân sách, muốn vận động tài trợ cũng khó.

Đã qua rồi cái thời của những cuộc mít - tinh hàng ngàn người, hình thức, lãng phí - lãng phí kinh phí tổ chức, lãng phí thời gian của người dự. Nhìn trên truyền hình thường thấy ở các nước, tại các cuộc gặp gỡ chính khách, đôi khi chỉ vài mươi người, khách mời, đại biểu ngồi ghế một, thậm chí đứng nghe, sao mà đơn giản đến thế, nhẹ nhàng thế, gần gũi thế.

Thời nay là thời của công nghệ thông tin, của các trang mạng xã hội, còn nhiều hình thức truyền thông hiệu quả hơn, nhanh hơn, tương tác hơn cơ mà.

Mình chưa có nhiều nguồn lực để đầu tư các thiết chế đủ chuẩn, hoành tráng, khi nào khá giả hơn thì hãy tính đến sự quy mô, hoành tráng. Nguồn lực thì hữu hạn nhưng nhu cầu thì vô hạn mà. Ông bà mình dạy: “Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”. Đây đó còn cần những cây cầu kiên cố, những con đường rộng rãi, bằng phẳng, những khu vệ sinh sạch sẽ trong các ngôi trường, và còn vô vàn cái “cần” khác.

Suy cho cùng, vẫn có cách thức tổ chức tốt hơn nếu biết thay đổi cách nghĩ. Nhất là, người lãnh đạo phải nhận thức rằng, nông thôn mới là của người dân, hướng đến phục vụ nhu cầu thiết thân của người dân, đó là nâng cao thu nhập của người dân. Không nên nghĩ rằng, đạt chuẩn nông thôn mới là để báo cáo hoàn thành chỉ tiêu “trên giao”, để được treo cái bảng công nhận danh hiệu. Còn người dân, người được xác định là chủ thể của chương trình này, thì vẫn thờ ơ, coi đó là chuyện của “mấy ổng”, chứ không phải của mình đâu mà lo. 

Hà Anh 
(TBKTSG)  

Lạc vào khu công nghiệp “đẹp như công viên” ở Hà Nội

KCN Phú Nghĩa Nằm trên quốc lộ 6 giữa 2 thị trấn Xuân Mai và Chúc sơn, là điểm kết của đường Lê Văn Lương kéo dài, KCN Phú Nghĩa sở hữu vị trí đắc địa để sản xuất kinh doanh

 

Sau 10 năm xây dựng và phát triển, KCN Phú Nghĩa của Tập đoàn Phú Mỹ trở thành một “KCN kiểu mẫu của Thủ đô Hà Nội” và là một trong những KCN được quy hoạch khoa học, tiện ích, hạ tầng đồng bộ và có cảnh quan đẹp hàng đầu ở Việt Nam.

Năm 2006, Công ty Cổ phần phát triển công nghiệp Phú Mỹ chính thức bước chân vào mảng kinh doanh bất động sản khu công nghiệp với dự án “đầu tay” là Khu Công nghiệp Nam Phú Nghĩa rộng 39ha. Sau đó, ngày 19/20/2007, Phú Mỹ được tin tưởng giao làm chủ đầu tư KCN Phú Nghĩa mở rộng với diện tích hơn 170 ha.

Với vị trí đắc địa là điểm cuối của đường Lê Văn Lương kéo dài, KCN Phú Nghĩa chỉ cách trung tâm quận Hà Đông 10 km, cách Cảng hàng không quốc tế Nội Bài 40 km và cách Cảng biển quốc tế Hải Phòng 120 km và chỉ mất 5 km để kết nối với Quốc lộ 21A (đường Hồ Chí Minh).

KCN Phú Nghĩa được Tập đoàn Phú Mỹ đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật hiện đại và đồng bộ, bao gồm: hệ thống giao thông, cấp điện, nhà máy nước sạch, nhà máy xử lý nước thải… sẵn sàng phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhà đầu tư trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, chủ đầu tư cũng không quên chăm lo cho cuộc sống người lao động khi dành gần 17 ha diện tích xây dựng khu nhà ở lao động, khuôn viên cây xanh, hồ điều hòa cùng nhiều dịch vụ tiện ích giúp cho người lao động yên tâm làm việc và cống hiến cho xã hội.

Hiện đã có trên 60 doanh nghiệp trong và ngoài nước xây dựng nhà máy sản xuất trong KCN Phú Nghĩa, đạt tỷ lệ lấp đầy 80% diện tích. Trong đó có một số doanh nghiệp tiêu biểu như: Công ty cổ phần Chăn nuôi C.P Việt Nam (Thái Lan), Công ty TNHH DooJung Việt Nam (Hàn Quốc), Công ty VMEP – Nhà máy sản xuất và lắp ráp phụ tùng xe máy, Công ty TNHH Đồ chơi Cheewah Việt Nam (Đài Loan), Công ty TNHH Thời trang Star (Singapore)… tạo công ăn việc làm cho gần 10.000 lao động.

Dưới đây là một số hình ảnh về KCN Phú Nghĩa của Tập đoàn Phú Mỹ:

KCN Phú Nghĩa Nằm trên quốc lộ 6 giữa 2 thị trấn Xuân Mai và Chúc Sơn, là điểm kết của đường Lê Văn Lương kéo dài, sở hữu vị trí đắc địa để sản xuất kinh doanh.
KCN Phú Nghĩa được quy hoạch khoa học, hệ thống hạ tầng hoàn hảo, rộng rãi tràn ngập cây xanh, hoàn thiện các dịch vụ về đầu tư, tài chính, kỹ thuật, luật pháp, thuế quan, hải quan…
Hai khu nằm hai bên QL6 có tổng cộng 170ha.
Là nơi hàng trăm doanh nghiệp trong và ngoài nước thuê sản xuất, kinh doanh.
Không những thế, Phú Mỹ đã dành diện tích xây dựng nhà ở cho người lao động gần 4ha, nhằm đảm bảo chỗ ở ổn định lâu dài cho người lao động và khu cây xanh hồ nước với diện tích 5,5ha để tạo cho người lao động có một không gian nghỉ ngơi, thư giãn, vui chơi sau thời gian làm việc căng thẳng, giúp họ yên tâm làm việc cống hiến cho xã hội.
Tòa nhà ở thu nhập thấp dành cho công nhân của Phú Mỹ là một trong những dự án xây dựng nhà ở cho công nhân đầu tiên tại Hà Nội.
Trong Khu nhà ở cho công nhân rộng 12ha có con đường Tình Yêu rợp trời hoa phượng đỏ, tím ngắt hoa bằng lăng soi bóng bên hồ Tiên Sa thơ mộng, có những hàng ghế đá ven hồ, những bức tượng đá cẩm thạch nghệ thuật xen giữa rừng cây xanh mát, có khu vui chơi trẻ em dễ thương với cầu lượn, bập bênh, thú nhún…

 

Theo Báo Đầu tư

 
 

Jan Gehl: Các thành phố cứ quy hoạch để giảm tắc đường là hoàn toàn sai lầm, đây mới là điều họ cần quan tâm

Trong hàng trăm năm qua, Venice đã thu hút nhiều khách du lịch bởi những con phố đi bộ, những ngõ hẻm chật hẹp và hệ thống kênh đào nên thơ riêng của mình. Khách du lịch ở đây có thể tụ tập trên những quảng trường, ngồi trong các quán cà phê ngoài trời hay ngắm nhìn những di tích lịch sử. 

Theo kiến trúc sư Jan Gehl người Đan Mạch, Venice là một ví dụ điển hình cho môi trường sống phù hợp, một đô thị được thiết kế nhằm phát triển mạnh đời sống cộng đồng cũng như cá nhân, một thành phố thân thiện với người dân.  


Jan Gehl [Không gian công cộng nhằm thay đổi Cuộc sống công cộng

Với tình trạng dân số bùng nổ như hiện nay khi 66% số người dân toàn cầu sẽ sống tại các đô thị vào năm 2050, ông Gehl cho rằng một thành phố thân thiện với người dân là điều vô cùng quan trọng. 

Để làm được điều đó, những nhà hoạch định chính sách, kiến trúc sư hay các chuyên gia phải đưa người dân làm trung tâm của tư tưởng thiết kế cũng như xây dựng thành phố. Nghe có vẻ kỳ quặc nhưng nhiều thành phố trên thế giới thay vì quan tâm đến người dân lại đi tập trung quy hoạch theo “xe cộ”. 

Thay vì chú trọng vào nhu cầu của người dân, những nhà quy hoạch lại để ý làm sao cho thành phố chứa được càng nhiều xe càng tốt, chạy xe không bị tắc đường, có nhiều chỗ đỗ xe hơn...

Kiến trúc sư Gehl không đồng ý với cách quy hoạch như vậy, theo ông các kiến trúc sư cần làm cho thành phố trở nên dễ sống, lành mạnh, an toàn và bền vững hơn thay vì chỉ quan tâm đến giao thông như vậy. 

Với những kinh nghiệm của mình, dưới đây là 5 vấn đề mà các thành phố hiện nay nên lưu ý khi quy hoạch. 


Venice

1- Ngừng kiểu quy hoạch “tận dụng giá xăng rẻ”

Đối với ông Gehl, hai vấn đề biến đổi khí hậu và sức khỏe người dân nên được các nhà quy hoạch lưu tâm từ thời điểm hiện nay. 

Trong suốt 50 năm qua, các nhà quy hoạch trên toàn thế giới hầu như đã đi theo lối mòn và ép buộc người dân phải ngồi trong các tòa nhà văn phòng, ngồi trên phương tiện giao thông hay phải ở trong nhà. Thành phố hầu như không xây dựng nhiều chỗ vui chơi hay để người dân có cơ hội tham gia các hoạt động ngoài trời.

Hầu như tất cả những thành phố lớn hiện nay đều ngập trong những tòa nhà cao tầng, đường cao tốc, tàu điện ngầm...mà không thể có một môi trường sống nên thơ như Venice.

Tất nhiên cuộc sống khá sôi động và không thể bắt mọi thành phố quy hoạch như Venice, nhưng việc ép buộc mọi người lao đầu vào công việc và di chuyển sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người dân.

Ông Gehl cho rằng sự phổ biến của các phương tiện giao thông và giá xăng rẻ đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến quy hoạch thành phố trong suốt 60 năm qua. Họ xây những khu vực ngoại ô rộng lớn, những khu đô thị nằm ven các trung tâm và cho rằng mọi thứ như thế là hợp lý bởi người dân có thể dễ dàng di chuyển bằng các phương tiện giao thông.

Dẫu vậy, nếu giá xăng không còn rẻ, kiểu quy hoạch này sẽ trở nên rất tệ. Hơn nữa, tạp chí y tế The Lancer đã từng khảo sát và cho thấy những người sống ở trung tâm đô thị có tuổi thọ cao hơn những người sống tại các khu đô thị ven trung tâm. Nguyên nhân là những người ở trung tâm đô thị đi bộ nhiều hơn trong khi người dân sống ở ngoại vi lại đi xe nhiều hơn.


Brasilia 

2- Thúc đẩy đời sống cộng đồng

Năm 2009, thủ đô Copenhagen của Đan Mạch phát động chiến dịch biến thành phố thành nơi đáng sống nhất trên thế giới. Theo đó, những nhà quy hoạch đô thị cho rằng người dân nên bước ra khỏi nhà, khỏi văn phòng và khỏi chiếc xe hơi của họ nhiều hơn. Việc đi bộ quanh thành phố, thăm quan những khu vực công cộng sẽ cải thiện được đời sống cộng đồng trong xã hội. 

Với quan điểm này, người dân có thể bảo vệ được môi trường hơn khi tiêu tốn ít điều hòa và xăng xe hơn. Họ cũng sẽ gắn kết với cộng đồng hơn cũng như có sức khỏe tốt hơn nhờ vận động.

Hơn thế nữa, nhiều người đi bộ và tận hưởng vẻ đẹp của thành phố cũng khiến an ninh trở nên tốt hơn cũng như thu hút được nhiều khách du lịch hơn.

Nhờ kiểu quy hoạch này, mọi người trong thành phố có thể gặp nhau trực tiếp nhiều hơn là phải nói chuyện qua các ứng dụng liên lạc hoặc điện thoại, nhờ đó cải thiện môi trường sống. 


Copenhagen
 [xem thêm

3/ Tạo những trải nghiệm mới một cách tối đa cho người dân 

Thời kỳ sơ khai, loài người là một giống động vật đi trên đất và các giác quan của loài người khi đó được thiết kể để chỉ để cảm nhận những chuyển động chậm, vào khoảng 4,8 km/giờ. 

Vì vậy, ông Gehl cho rằng một quy hoạch hợp lý cần dựa trên các giác quan của con người và tạo những trải nghiệm tối đa cho người dân.

Trong nhiều năm, con người đã bỏ qua những trải nghiệm vốn có để quy hoạch thành phố tập trung vào giao thông. Hiếm có thành phố nào như Venice, nơi người dân có thể đi bộ chậm rãi và hưởng thụ những trải nghiệm, những cảm giác mới lạ từ môi trường sống xung quanh.


Venice

4- Thiết kế hệ thống giao thông giá rẻ

Công bằng xã hội hiện nay là điều khó đạt được khi nhu cầu bất động sản tăng cao còn giá nhà thì nóng lên từng ngày.

Nghe có vẻ nực cười, nhưng chính yếu tố này cùng với sự bất bình đẳng thu nhập xã hội đã đẩy những người thu nhập thấp ra các vùng ngoại ô, qua đó buộc họ phải chi tiêu nhiều hơn cho việc di chuyển vào trung tâm để làm việc.

Vì vậy, các nhà quy hoạch nên tạo điều kiện cho những loại giao thông giá rẻ và cố gắng giúp những người thu nhập thấp giảm chi cho giao thông, tạo nên một môi trường sống thoải mái hơn. 


Bogota [xem thêm

5- Cấm xe hơi

Rõ ràng, thời kỳ hoàng kim của xe hơi đã qua. Sau khi tăng trưởng số lượng xe hơi trên toàn thế giới đạt đỉnh vào năm 2009, chúng đã dần giảm tốc thời gian sau đó. 

Hãy nhìn Singapore để thấy xe hơi không phải là lựa chọn tốt nhất cho quy hoạch những thành phố lớn. Diện tích đất nơi đây đã hết và chả còn chỗ cho những chiếc xe hơi. Thay vào đó, đi bộ và xe đạp lại là những giải pháp hữu hiệu hơn cả. 


Singapore
 [xem thêm

Theo ông Gehl, những giải pháp như ô tô tự hành không giúp giải quyết được vấn đề thiếu không gian hay không thân thiện với đời sống người dân. Thay vào đó, các nhà quy hoạch nên hướng tới việc loại bỏ xe hơi và sử dụng những phương tiện giá rẻ khác. Việc quá chú trọn vào dòng xe tự động hay xe điện hay những sản phẩm tương tự chỉ có lợi cho ngành ô tô mà chẳng lợi ích gì cho đời sống người dân. 

Hoàng Nam 
(Trí Thức Trẻ)