Từ thành phố Buôn Ma Thuột nghĩ về bản sắc văn hóa đô thị Tây Nguyên

Đối với một thành phố xây dựng và phát triển trên địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số, vấn đề bảo tồn văn hóa truyền thống bao gồm: bảo tồn di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, duy trì sự phát triển tiếp nối của văn hóa truyền thống, phát huy văn hóa truyền thống trong điều kiện đô thị hóa và hiện đại hóa. 

Thứ nhất, bảo tồn di sản văn hóa, vật thể và phi vật thể. Các dân tộc thiểu số sở hữu di sản văn hóa vật thể tương đối khiêm nhường, chủ yếu là kiến trúc cư trú và vật dụng đời sống. Di sản văn hóa phi vật thể của họ phong phú hơn nhiều, với đặc điểm nổi trội là chưa có giới hạn rõ rệt giữa văn hóa dĩ vãng và văn hóa hiện tại. 

Đối với di sản văn hóa vật thể, phù hợp hơn nếu đặt vấn đề bảo tồn không phải là di tích văn hóa và kiến trúc, như đối với các dân tộc khác (có giá trị trước hết về niên đại), mà bảo tồn những kiến trúc tiêu biểu hoặc điển hình, đặc biệt không gian cộng đồng buôn làng, cùng các đồ vật phục vụ đời sống và sản phẩm đặc trưng của văn hóa vật thể. 


Trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột 

Không thể đặt vấn đề bảo tồn bất biến mô hình cư trú và mô hình cộng cư hiện hữu của các dân tộc thiểu số, cũng như hoàn toàn không thể bảo tồn bất biến, chỉ bởi hoài niệm, những ngôi làng cổ và cũ, với tư cách là những di sản kiến trúc và đời sống xã hội nông thôn, như Đường Lâm ở Hà Nội hoặc Phước Tích ở Thừa Thiên- Huế. Cũng vậy, mang tính thực tế và khả thi, khi chọn một vài buôn làng của dân tộc ít người, có những công trình kiến trúc đặc trưng và khung cảnh cộng cư đặc trưng, để bảo tồn lâu dài, không có những biến đổi lớn. Không thể và không nên bảo tồn buôn làng như một bảo tàng ngoài trời, mà phải bảo tồn trong sự tiếp nối cuộc sống của dân cư. Hễ cuộc sống bình thường tiếp tục, thì biến đổi là sự đương nhiên. Để bảo tồn và tiếp tục cuộc sống, nhất thiết phải có sự điều tiết phát triển. 

Làng ở miền xuôi, buôn ở Tây Nguyên trong dòng tiến hóa tăng tốc, dứt khoát và không thể đảo ngược. Điều kiện sống, cộng đồng và cùng con người biến đổi, hình thái kiến trúc cư trú và cấu trúc cộng sinh biến đổi theo. Nhanh hoặc chậm, quá trình cải tiến, kế thừa, đảo thải, tiếp thu, bồi bổ và cách tân, sẽ diễn ra. Quỹ "gien" của giống nòi, bản sắc văn hóa, vừa bảo lưu vừa biến đổi, tìm đến những hình thái tồn tại và biểu hiện mới, song không dễ gì biến mất. Bảo tồn- hoài niệm- tiến bộ là một chuỗi tự nhiên.

Bảo tồn trước hết phải nhắm vào các đối tượng và những giá trị đích thực, thuộc về quá khứ của mỗi dân tộc và là tài sản của họ, chứ không phải là bảo tồn một cái gì đó "lừng chừng", được tạo ra hoặc bị quy nạp một cách thiếu hiểu biết hoặc nhầm lẫn. Dân tộc học và nhân học cùng phương pháp luận lịch sử là nền tảng của các quan điểm bảo tồn và hoạt động bảo tồn. Trong hiểu biết phổ biến hiện nay, nói đến văn hóa các dân tộc Tây Nguyên, là người ta nghĩ ngay và dựng ngay hình ảnh cái nhà "rông" hoặc, khi thưởng ngoạn âm nhạc Tây Nguyên, lại nghĩ ngay tới các ca khúc của Trần Tiến và Nguyễn Cường, tuy rất xuất sắc, song là những sáng tạo, sản sinh bởi những cảm xúc Cao Nguyên.

Nên chọn những buôn, những kiểu nhà thực sự đặc trưng, thực sự là sản phẩm của tiếp biến lịch sử, của đồng bào các dân tộc và bộ tộc Tây Nguyên, để giữ lại. Đối tượng này thì bảo quản theo bài bản bảo tàng học, đối tượng khác thì vừa để giới thiệu lại vừa để người dân sinh sống bình thường. Nên tránh dần mô hình những buôn làng bị "du lịch hóa" theo lối mòn, - buôn không phải là buôn, làng không phải là làng, phố không ra phố, mà là một cái gì đó không làm người ta tiếp cận được với cái "thật". Văn hóa du lịch hiện nay chính là sự thâm nhập vào cái "thật" lịch sử và cái "thật" hiện hữu. Tuy nhiên, khai thác du lịch chưa hẳn là mục tiêu số một của bảo tồn và di sản văn hóa.

Các buôn ở thành phố Buôn Ma Thuột và Pleiku được xây dựng từ trong những năm 60 của thế kỷ trước, từ những hoàn cảnh lịch sử nhất định. Về phương diện tiến hóa, chúng là những cấu trúc cộng cư có quy hoạch, có hình thái cư trú và hình thái cuộc sống chuyển biến vượt bậc so với lịch sử. Về phương diện đô thị, buôn ở đây là những thiết chế chuyển tiếp từ buôn sang thị. Trong hơn nửa thế kỷ qua, đồng bào đã bước vào quá trình đô thị hóa và thành thị hóa ở chừng mực và những hình thức nào đó, tuy chậm rãi, song thực sự họ đã bước vào. Những căn nhà dài ở đây đã cải tiến rất rõ so với những kiến trúc tương tự ở các buôn truyền thống. Lối sống và làm ăn cũng khác biệt.

Buôn trong và kế cận thành phố là những thực thể đặc trưng, sẽ còn tồn tại lâu dài trong sự chuyển hóa về hướng đô thị hóa và hiện đại hóa, không thể tránh nổi và không thể đảo ngược. Có thể đặt vấn đề giữ lại một - hai buôn có đặc điểm và giá trị hơn cả về các phương diện nào đó, song đối với tất cả vài chục buôn còn lại phải là cải tạo, thích ứng và hiện đại hóa.

Không thể chống lại quá trình hiện đại hóa tự thân, và cũng không thể chống nổi xu hướng người từ nơi khác đến mua đất và làm nhà. Mật độ xây dựng sẽ tăng và cảnh quan chung sẽ thay đổi. Chỉ có thể quản lý phát triển các buôn trong đô thị bằng cách chấp nhận những sự vận động tự nhiên của chúng, chủ động can thiệp bằng cách hoạch định các hướng phát triển sát thực tế và bởi vậy mang tính khả thi. Cần đưa ra những hướng dẫn để đồng bào chuyển đổi dần phương thức sản xuất, phù hợp hơn với điều kiện đô thị, cải tiến và thích ứng nếp sống và đặc biệt, hướng dẫn họ hiện đại hóa nhà ở và tổ chức không gian cộng cư đô thị hóa. Quản lý bằng sự hướng dẫn chứ không bằng mệnh lệnh ngăn cấm hoặc cho phép.

Các buôn hiện nay, nếu được cải tạo và hiện đại hóa bằng sự điều tiết, có thể trở thành những thực thể đô thị, ngang bằng và bình đẳng với các thực thể khác. Hơn thế nữa, chúng sẽ là những không gian xây dựng thấp tầng và xanh, góp phần hình thành sự chuyển hóa mềm từ thiên nhiên sang đô thị. Buôn, trong trường hợp ấy, sẽ góp phần quan trọng cho Buôn Ma Thuột có được diện mạo và hình thái đô thị không lặp lại. 


Nhà dài của đồng bào Êđê phục dựng trong Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Thứ hai, bảo tồn văn hóa truyền thống của cộng đồng dân tộc thiểu số trong điều kiện đô thị hiện đại. Ở đây cần xem xét hai cục diện: Sự duy trì và tiếp tục phát triển; sự phát huy và đóng góp cho phát triển thành phố với tư cách một nhân tố cấu thành đặc trưng.

Cộng đồng các dân tộc thiểu số tiến hóa tăng tốc trong guồng của những vận động tự nhiên: miền xuôi hóa, đô thị hóa, thành thị hóa và cả quốc tế hóa. Những vận động trên sẽ diễn ra với tốc độ khác nhau, song chắc chắn là đồng thời. Chúng vừa tạo dòng chảy mới cho sự phát triển của cộng đồng của các dân tộc thiểu số, vừa tạo ra những thách thức to lớn đối với sự bảo lưu văn hóa của họ. Tiến hóa và biến hóa là tất yếu. Sự tiếp thu và đào thải, hội nhập sẽ làm nảy sinh những sắc thái và giá trị mới. Quỹ "gien" giống nòi và quỹ "gien" văn hóa dân tộc sẽ bồi bổ và phong phú lên, định hình ở giai đoạn mới. Chuyển về sống ở đô thị, ngay người miền xuôi, vốn có gốc thôn quê, cũng không dễ gì trở thành người thành thị. Bởi sống ở làng, họ quen hoạt động trong một không gian tương đối khép, họ quen với những cư xử và ứng xử giữa những người chung huyết thống hoặc bà con xóm giềng. Khi chuyển về đô thị, họ buộc phải sống giữa cộng đồng những người tứ xứ, khác nhau nhiều hơn là giống nhau, xử sự và ứng xử theo những ước lệ hoặc những gì đã thành luật. Văn hóa đô thị, hệt cái sàng và cái rây bột, gạn lọc dần, kết thành tinh và thành lớp. Người dân tộc ở đô thị, phải trải qua quá trình thích ứng nhọc nhằn và dài lâu hơn. Họ chuyển từ cái buôn, vốn chưa kịp định hình toàn diện như cái làng sang thẳng thành phố, một tổ chức cộng cư khác biệt tuyệt đối. 

Người dân tộc, chủ nhân của địa bàn thành phố, vừa đứng trước nhu cầu duy trì và phát triển tự nhiên, lại vừa không thể tự tách mình ra khỏi cái dòng chảy đô thị hóa. Đô thị hóa khuôn khổ vật chất của cuộc sống đơn giản hơn nhiều so với đô thị hóa bản thân họ. Họ buộc phải chấp nhận sự biến đổi cho phù hợp với mô hình và những chuẩn mực của đời sống đô thị là chính, chứ họ không thể tác động đáng kể đến sự tạo dựng văn hóa đô thị đặc trưng cho thành phố. Có lẽ, chính sự chung sống của các cộng đồng dân cư từ các địa phương, trong đó có sự tham gia với những khác biệt nổi trội của cộng đồng dân tộc thiểu số, sẽ hun đúc văn hóa đô thị Buôn Ma Thuột có những sắc thái riêng.

Không thể ảo tưởng về sự bảo lưu bất biến những truyền thống văn hóa của người dân tộc thành thị hóa. Cũng không tưởng việc tồn tại song song mà không có hội nhập văn hóa của con người miền xuôi và văn hóa của người dân tộc. Hội nhập là quá trình tự nhiên, thành thị thúc đẩy và xúc tác hơn cả quá trình ấy.

 
Bảo tàng Đắk Lắk 

Công cuộc đô thị hóa và hiện đại hóa đô thị đang diễn ra với vận tốc chưa từng thấy trong lịch sử, vừa tạo nên những quỹ vật chất -kỹ thuật- kiến trúc đô thị to lớn, vừa bộc lộ sự đồng nhất tương đối trong những chuẩn mực phát triển, cùng với đó là sự đơn điệu hóa, sự mờ nhạt dần những sắc thái riêng mà chúng ta vốn dễ dàng nhận ra ở mỗi thôn làng, ở mỗi vùng quê và thành thị xưa cũ.

Thực ra, quá trình vĩ mô hóa bản sắc văn hóa, bản sắc kiến trúc của những thiết chế cộng cư, từ thôn quê đến thành thị, đang tiếp biến mau lẹ, vượt quá khả năng tiếp nhận và tiêu hóa của chúng ta. Cả trăm năm, bản sắc lắng đọng chậm rãi trong dòng chảy của thời gian. Nay, bản sắc biến hóa, định hình vội vã trong dòng chảy vội vã và ngày càng tăng thôi thúc. Nặng trĩu bởi hoài niệm, chưa kịp tăng tốc để rượt đuổi nhịp chạy của thời gian, ta hoang mang: nơi này thì mất bản sắc, nơi kia thì không có bản sắc.

Không phải thế. Chẳng có ai mà không có bản thể. Chẳng có vùng đất nào mà không có những cái riêng, duy nhất của mình. Chẳng có thành phố nào mà không có những khác biệt trong so sánh, không có những cải tiến sát gần với hoặc đã kịp thấm đậm bản sắc. Buôn Ma Thuột, thành phố trẻ, thành phố phát triển nhanh, bộc lộ rõ bản sắc của mình. Điều này dễ nhận ra, nếu ta thật sự khách quan, nếu ta gạt bỏ định kiến và không nặng về hình thức.

Bản sắc văn hóa, bản sắc đô thị là sản phẩm của lịch sử, thời đại nào cũng ít nhiều tạo ra và để lại dấu ấn của mình. Bản sắc không bất biến, không tĩnh tại, mà biến đổi, vận động như một sự vật, vừa giữ vừa thải, vừa tiến hóa và vừa định hình, tuyệt đối không đóng băng. Bản sắc cần cho phát triển như một nhân tố động lực. Cần cho sự khẳng định trong cạnh tranh phát triển. Cần cho sự tiếp tục và cho sự sản sinh từ trường, mà mỗi đô thị có và phải là. Phát triển và bồi đắp bản sắc không bởi vì nó. Các yếu tố, từ ngoài vào và từ trong ra, hợp lực kết thành bản sắc. Ta chỉ có thể góp phần cho sự nảy nở và khẳng định bản sắc. Ta chớ nên đặt nó thành mục tiêu, bởi động cơ ấy dễ dẫn đến chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa thủ cựu. Nhất là trong kiến trúc. Chớ nên để hoài niệm, đứa con của tâm thức riêng tư, trở thành cái thước đo cứng nhắc, đem áp vào thân thể của mỗi thành phố, mỗi cộng đồng đô thị, vốn có cuộc sống chẳng hề giống ai.

Thời nay, hơn khi nào hết, cần dứt khoát chọn và lao thẳng về hướng phát triển. Thời mới, tầng bậc mới, ắt sẽ sản sinh bản sắc mới và những giá trị mới. Người Nhật Bản và người Hàn Quốc, càng tân tiến càng bộc lộ bản sắc, sâu và bền, dễ nhận biết.

Chúng ta hình như lo lắng có phần quá mức về duy trì bản sắc, điều đó có thể ngăn cản bước tiến lên, cái mà ta cần hơn cả ở thời nay.

Buôn Ma Thuột có những xuất phát điểm và những tiềm năng đủ sức mạnh sản sinh, để trở thành một thành phố có văn hóa đô thị và kiến trúc đặc sắc. Đó là:

Tài nguyên thiên nhiên: một vùng đất bao la, màu mỡ và chưa bị khai thác nhiều; địa hình, địa thế và địa mạo phong phú, đặc sắc và tiềm ẩn những khả năng tạo diện mạo đặc trưng cho đô thị.

Sức mạnh về tiềm năng kinh tế: cây công nghiệp ở thế đại canh và chuyên canh như cà phê, cao su, h ồ tiêu, cây ăn quả… là cơ sở cho một nền công nghiệp chế biến quy mô lớn và nổi trội.

Tài nguyên nhân văn: cộng đồng các dân tộc thiểu số và các truyền thống văn hóa độc đáo, đặc biệt sống động của họ; sự cộng sinh của dân cư các vùng miền đất nước; sự ngự trị của sức mạnh tinh thần Cao Nguyên, thể hiện ở sức bật và sức vươn tới cái mới.

Sự tích lũy và những giá trị kiến trúc đô thị đã được tạo lập trong một thời gian không dài và tương đối cơ bản. Đặc biệt đã bộc lộ những nét riêng.

Có thể nêu ra đây một số đặc điểm nổi trội của bức tranh kiến trúc đô thị Buôn Ma Thuột:

- Thành phố đang mở mang vượt tầm một đô thị hàng tỉnh, đô thị tỉnh lỵ, vươn rộng và mạnh ra các không gian mới, tạo ra những vùng đất gắn kết chặt chẽ bởi hạ tầng và thuận lợi cho xây dựng với qui mô lớn.

- Đặc trưng hình thái học đô thị và cảnh quan đô thị đã định hình khá rõ nét: Sự chuyển hóa mềm các không gian đô thị có mật độ xây dựng đặc và loãng khác nhau, có hình thái kiến trúc khác nhau; sự kết hợp khá nhuần nhị những biến thái của địa hình, địa mạo với kiến trúc của đường phố và ô phố; sự hiện hữu các không gian xanh có quy hoạch và được chăm sóc, bên cạnh các không gian xanh tự nhiên; bức tranh toàn cảnh của toàn thành phố nhìn từ trên cao gây nhiều thiện cảm, với sự hiện diện chủ yếu của các mái nhà dốc và lợp ngói đỏ, khác với nhều thành phố khác, ức chế ta bởi vô vàn những mái tôn và những bồn chứa nước inox.

- Kiến trúc mới xây dựng trong khoản 2 thập kỷ qua gây ấn tượng tốt về tính lành mạnh và sự mới mẻ về kiểu cách; không đến nỗi đập vào mắt những tòa nhà giả cổ kiểu Tây rất phổ biến ở miền Bắc; chất lượng thi công và hoàn thiện tốt.

- Thành phố được chăm sóc, xây cất khá quy củ, tính tự phát trong xây dựng chưa ở mức thách thức. Đã xuất hiện những đoạn phố, những không gian nhỏ có diện mạo thành thị. Trình độ thẩm mỹ đô thị có phần vượt nhiều thành phố hành tinh khác. Điều này nhận thấy rõ ở sự bài trí các tiệm cà phê, các nhà hàng, cửa hàng và văn phòng, ở không gian trung tâm thành phố…

- Về phương diện ngôn ngữ kiến trúc, ở Buôn Ma Thuột phổ biến sự vay mượn và biến tấu hình ảnh cái mái nhà dài của dân tộc Ê Đê. Trong một số trường hợp, giải pháp này có thể nói là thành công, do sự phù hợp với tính chất công trình, do sự tạo dáng tốt. Tuy nhiên nhận thấy khá nhiều trường hợp khiên cưỡng.

Hình dáng mái nhà có thể là một mô-tip thị sở để sáng tác và tạo ra nét riêng biệt về hình thức, đặc thù cho kiến trúc đô thị cao nguyên, song không đủ để tạo ra bản sắc cho kiến trúc Buôn Ma Thuột. Sự biến hóa trong kiến trúc hiện đại các đường nét đặc trưng của kiến trúc dân tộc Tây Nguyên chỉ có thể tạo nên những tín hiệu hình thức, dễ nhận biết và dễ nhớ, song không thể coi đó là biểu hiện đầy đủ của kiến trúc mới. Chúng ta có thể coi đó là biểu hiện thấm nhuần tinh hoa và tinh thần cốt lõi của văn hóa, của kiến trúc các dân tộc bản địa, mang và nhập chúng một cách tự nhiên vào sáng tạo kiến trúc ngày nay. Mọi sự nhại lại giới hạn với chủ nghĩa hình thức.

Đi theo chiều hướng nhại lại hời hợt hình thức, ta có thể logo hóa kiến trúc. Chỉ những công trình kết hợp nhuần nhị sự phát huy và sự tìm tòi, mới có thể trở thành sản phẩm đích thực. Một số ít trong số đó có thể trở thành logo cho thành phố.

Chỉ có thể xây dựng một thành phố có bản sắc, cả về đời sống cộng đồng thành thị và cả về diện mạo kiến trúc, nếu ta đi lên và kiến tạo nó từ sự gợi mở của tài nguyên thiên nhiên, từ sự tích lũy văn hóa bản địa và văn hóa cộng đồng đặc trưng, từ quỹ kiến trúc đô thị đã hình thành và từ sự bộc lộ thị sở những ưu việt, từ những chủ trương và các chương trình mở mang thành phố có tính nhất quán và có tầm nhìn, những đòi hỏi và tìm tòi bền bỉ của giới sáng tác địa phương. 

Điều này làm ta yên tâm hơn cả trong sự khởi sắc nhanh chóng của Buôn Ma Thuột và của đô thị Tây Nguyên khác, bộc lộ sự tìm tòi dẫn tới bản sắc./. 

GS.TS.KTS. Hoàng Đạo Kính 
(Bài đăng trong Tạp chí Quy hoạch Đô thị số 28-2017

 

Nông thôn mới là của ai?

Viết email

THỨ NĂM, 15 THÁNG 9 2016 10:08 THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN

Một khi đã xác định đúng đắn mục tiêu của chương trình thì việc xây dựng nông thôn mới sẽ sát với nhu cầu thực tế hơn và khả thi hơn, không phải tốn quá nhiều tiền cũng có thể làm được.  

Nông thôn mới là của ai?

Chương trình xây dựng nông thôn mới đã được triển khai một thời gian dài. Xã thi đua với xã, huyện thi đua với huyện, tỉnh này thành nọ cũng thi đua. Biết bao buổi lễ “mừng công” xã đạt chuẩn, huyện đạt chuẩn được đưa lên báo đài, đưa vào trong các báo cáo thành tích. Bỗng dưng, đùng một cái, báo đài đưa tin, các hội nghị đánh giá, bên cạnh mặt được thì còn biết bao là bất cập, nhất là chuyện nợ nần vì lỡ “vung tay quá trớn”, không biết “liệu cơm gắp mắm” như ông bà mình từng cảnh tỉnh. 


Cần nhận thức rằng, nông thôn mới là của người dân, hướng đến phục vụ nhu cầu thiết thân của người dân, đó là nâng cao thu nhập của người dân.
 (Ảnh: Lê Hoàng Vũ) 

Tất cả, có lẽ bắt đầu từ nhận thức về mục tiêu của chương trình. Nông thôn mới là gì, cho ai, vì ai? Có lẽ bắt đầu từ sự suy nghĩ rằng nông thôn mới là phải có hình thức mới - những thứ có thể đong, đo, đếm được: con đường, cây cầu, kênh mương, trụ sở, chợ búa, trường học, trạm y tế, thiết chế văn hóa... Và thế là rơi vào cái mà có người gọi là “tư duy cái hộp đựng”, ám chỉ đến việc khi đầu tư thường chỉ chú ý đến công trình xây dựng - “cái vỏ”, mà không chú ý đến cái “ruột” - hoạt động vận hành của công trình đó, hay cũng có thể nói chỉ lo phần “xác” mà thiếu nghĩ đến phần “hồn”. Nhìn đây đó, không khó để nhận ra nhiều công trình xây dựng rất quy mô, nhưng hoạt động thì nghèo nàn, đơn điệu, sai chức năng. Mà cái “vỏ” lớn thì chi phí vận hành cũng lớn: điện nước, bảo trì, sơn sửa... còn hiệu quả hoạt động và ai sử dụng thì... bỏ ngỏ.

Tất nhiên, xã nông thôn mới cần đầu tư nhiều công trình phục vụ dân sinh. Nhưng suy cho cùng, đó chỉ là phần “xác”- là điều kiện cần. Phần “hồn” - điều kiện đủ - là nội dung hoạt động mới là cái đáng quan tâm ngay từ bước chuẩn bị đầu tư nhưng chưa thật sự được coi trọng.

Vẫn có cách thức tổ chức tốt hơn nếu biết thay đổi cách nghĩ. Nhất là, người lãnh đạo phải nhận thức rằng, nông thôn mới là của người dân, hướng đến phục vụ nhu cầu thiết thân của người dân, đó là nâng cao thu nhập của người dân. 

Không phải là trường học mới, mà là chất lượng dạy và học. Không phải là trạm y tế mới, mà là thái độ tận tụy của người thầy thuốc, là sự thuận tiện trong khám chữa bệnh cho người dân. Không phải là thiết chế văn hóa mới, mà là sinh hoạt của cộng đồng dân cư. Không phải là trụ sở làm việc mới, phương tiện làm việc hiện đại, mà chính là tinh thần mẫn cảm, thân thiện, là nụ cười, là tiếng cám ơn, là lời xin lỗi thật lòng của cán bộ, công chức với người dân. Không phải là cổng làng hoành tráng, mà trong đó người dân có tinh thần tương thân tương ái, biết tự chủ, tự lực, tự cường, biết hợp tác với nhau trong cuộc sống và trong sản xuất, chứ đừng đeo đẳng mãi nếp nghĩ “đèn nhà ai nấy sáng”.

Có như vậy bà con mình mới có điều kiện giúp nhau để từ nghèo nàn lên khấm khá, rồi từ khấm khá trở nên giàu có hơn. Đó chính là phần “hồn”, là mục tiêu cuối cùng của chương trình xây dựng nông thôn mới.

Đi về cơ sở, người viết thường nghe lãnh đạo địa phương than vãn không có “sân chơi” cho thanh thiếu niên, nên các phong trào văn hóa, thể dục, thể thao không phát triển được, và thường quy kết đó là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn trong xã hội nông thôn. Có phải như vậy không?

Người viết cũng có dịp tham dự đêm giao lưu của thầy trò một trường đại học ở một xã cù lao. Chỉ với vài băng ghế học sinh ghép vào nhau, trải một tấm nhựa lên, treo một cái phông là đã có một sân khấu ca hát vui vẻ, người xem hòa mình vào buổi sinh hoạt sôi động. “Sân chơi” đâu phải là công trình quy mô gì hoành tráng lắm đâu. Có thể chỉ là một bãi đất trống, có thể là sân trụ sở ủy ban nhân dân xã, có thể là sân một ngôi trường. Chưa có sân bóng đủ tiêu chuẩn thì một khuôn viên nhỏ cũng có thể chơi bóng đá 5-7 người, chơi bóng chuyền, cầu lông... Mỗi khóm, ấp không quá khó để tìm ra những khuôn viên như vậy. Ở bất kỳ đô thị nào đều chắc chắn không thiếu quảng trường, hoa viên để cộng đồng đến sinh hoạt, vui chơi.

Mỗi khi tổ chức các hoạt động thì trong tiềm thức chúng ta hay nghĩ đến sự hoành tráng, phải tập hợp được vài trăm người. Sao không nghĩ đến việc chỉ vài chục người đã là một cuộc sinh hoạt được rồi, quy mô ít thì dễ linh hoạt, chi phí tốn kém ít hơn. Càng làm lớn thì nào là huy động người, sân khấu, phông màn, bàn ghế, mỗi thứ một chút, tốn kém ngân sách, muốn vận động tài trợ cũng khó.

Đã qua rồi cái thời của những cuộc mít - tinh hàng ngàn người, hình thức, lãng phí - lãng phí kinh phí tổ chức, lãng phí thời gian của người dự. Nhìn trên truyền hình thường thấy ở các nước, tại các cuộc gặp gỡ chính khách, đôi khi chỉ vài mươi người, khách mời, đại biểu ngồi ghế một, thậm chí đứng nghe, sao mà đơn giản đến thế, nhẹ nhàng thế, gần gũi thế.

Thời nay là thời của công nghệ thông tin, của các trang mạng xã hội, còn nhiều hình thức truyền thông hiệu quả hơn, nhanh hơn, tương tác hơn cơ mà.

Mình chưa có nhiều nguồn lực để đầu tư các thiết chế đủ chuẩn, hoành tráng, khi nào khá giả hơn thì hãy tính đến sự quy mô, hoành tráng. Nguồn lực thì hữu hạn nhưng nhu cầu thì vô hạn mà. Ông bà mình dạy: “Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”. Đây đó còn cần những cây cầu kiên cố, những con đường rộng rãi, bằng phẳng, những khu vệ sinh sạch sẽ trong các ngôi trường, và còn vô vàn cái “cần” khác.

Suy cho cùng, vẫn có cách thức tổ chức tốt hơn nếu biết thay đổi cách nghĩ. Nhất là, người lãnh đạo phải nhận thức rằng, nông thôn mới là của người dân, hướng đến phục vụ nhu cầu thiết thân của người dân, đó là nâng cao thu nhập của người dân. Không nên nghĩ rằng, đạt chuẩn nông thôn mới là để báo cáo hoàn thành chỉ tiêu “trên giao”, để được treo cái bảng công nhận danh hiệu. Còn người dân, người được xác định là chủ thể của chương trình này, thì vẫn thờ ơ, coi đó là chuyện của “mấy ổng”, chứ không phải của mình đâu mà lo. 

Hà Anh 
(TBKTSG)  

Lạc vào khu công nghiệp “đẹp như công viên” ở Hà Nội

KCN Phú Nghĩa Nằm trên quốc lộ 6 giữa 2 thị trấn Xuân Mai và Chúc sơn, là điểm kết của đường Lê Văn Lương kéo dài, KCN Phú Nghĩa sở hữu vị trí đắc địa để sản xuất kinh doanh

 

Sau 10 năm xây dựng và phát triển, KCN Phú Nghĩa của Tập đoàn Phú Mỹ trở thành một “KCN kiểu mẫu của Thủ đô Hà Nội” và là một trong những KCN được quy hoạch khoa học, tiện ích, hạ tầng đồng bộ và có cảnh quan đẹp hàng đầu ở Việt Nam.

Năm 2006, Công ty Cổ phần phát triển công nghiệp Phú Mỹ chính thức bước chân vào mảng kinh doanh bất động sản khu công nghiệp với dự án “đầu tay” là Khu Công nghiệp Nam Phú Nghĩa rộng 39ha. Sau đó, ngày 19/20/2007, Phú Mỹ được tin tưởng giao làm chủ đầu tư KCN Phú Nghĩa mở rộng với diện tích hơn 170 ha.

Với vị trí đắc địa là điểm cuối của đường Lê Văn Lương kéo dài, KCN Phú Nghĩa chỉ cách trung tâm quận Hà Đông 10 km, cách Cảng hàng không quốc tế Nội Bài 40 km và cách Cảng biển quốc tế Hải Phòng 120 km và chỉ mất 5 km để kết nối với Quốc lộ 21A (đường Hồ Chí Minh).

KCN Phú Nghĩa được Tập đoàn Phú Mỹ đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật hiện đại và đồng bộ, bao gồm: hệ thống giao thông, cấp điện, nhà máy nước sạch, nhà máy xử lý nước thải… sẵn sàng phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhà đầu tư trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, chủ đầu tư cũng không quên chăm lo cho cuộc sống người lao động khi dành gần 17 ha diện tích xây dựng khu nhà ở lao động, khuôn viên cây xanh, hồ điều hòa cùng nhiều dịch vụ tiện ích giúp cho người lao động yên tâm làm việc và cống hiến cho xã hội.

Hiện đã có trên 60 doanh nghiệp trong và ngoài nước xây dựng nhà máy sản xuất trong KCN Phú Nghĩa, đạt tỷ lệ lấp đầy 80% diện tích. Trong đó có một số doanh nghiệp tiêu biểu như: Công ty cổ phần Chăn nuôi C.P Việt Nam (Thái Lan), Công ty TNHH DooJung Việt Nam (Hàn Quốc), Công ty VMEP – Nhà máy sản xuất và lắp ráp phụ tùng xe máy, Công ty TNHH Đồ chơi Cheewah Việt Nam (Đài Loan), Công ty TNHH Thời trang Star (Singapore)… tạo công ăn việc làm cho gần 10.000 lao động.

Dưới đây là một số hình ảnh về KCN Phú Nghĩa của Tập đoàn Phú Mỹ:

KCN Phú Nghĩa Nằm trên quốc lộ 6 giữa 2 thị trấn Xuân Mai và Chúc Sơn, là điểm kết của đường Lê Văn Lương kéo dài, sở hữu vị trí đắc địa để sản xuất kinh doanh.
KCN Phú Nghĩa được quy hoạch khoa học, hệ thống hạ tầng hoàn hảo, rộng rãi tràn ngập cây xanh, hoàn thiện các dịch vụ về đầu tư, tài chính, kỹ thuật, luật pháp, thuế quan, hải quan…
Hai khu nằm hai bên QL6 có tổng cộng 170ha.
Là nơi hàng trăm doanh nghiệp trong và ngoài nước thuê sản xuất, kinh doanh.
Không những thế, Phú Mỹ đã dành diện tích xây dựng nhà ở cho người lao động gần 4ha, nhằm đảm bảo chỗ ở ổn định lâu dài cho người lao động và khu cây xanh hồ nước với diện tích 5,5ha để tạo cho người lao động có một không gian nghỉ ngơi, thư giãn, vui chơi sau thời gian làm việc căng thẳng, giúp họ yên tâm làm việc cống hiến cho xã hội.
Tòa nhà ở thu nhập thấp dành cho công nhân của Phú Mỹ là một trong những dự án xây dựng nhà ở cho công nhân đầu tiên tại Hà Nội.
Trong Khu nhà ở cho công nhân rộng 12ha có con đường Tình Yêu rợp trời hoa phượng đỏ, tím ngắt hoa bằng lăng soi bóng bên hồ Tiên Sa thơ mộng, có những hàng ghế đá ven hồ, những bức tượng đá cẩm thạch nghệ thuật xen giữa rừng cây xanh mát, có khu vui chơi trẻ em dễ thương với cầu lượn, bập bênh, thú nhún…

 

Theo Báo Đầu tư

 
 

Jan Gehl: Các thành phố cứ quy hoạch để giảm tắc đường là hoàn toàn sai lầm, đây mới là điều họ cần quan tâm

Trong hàng trăm năm qua, Venice đã thu hút nhiều khách du lịch bởi những con phố đi bộ, những ngõ hẻm chật hẹp và hệ thống kênh đào nên thơ riêng của mình. Khách du lịch ở đây có thể tụ tập trên những quảng trường, ngồi trong các quán cà phê ngoài trời hay ngắm nhìn những di tích lịch sử. 

Theo kiến trúc sư Jan Gehl người Đan Mạch, Venice là một ví dụ điển hình cho môi trường sống phù hợp, một đô thị được thiết kế nhằm phát triển mạnh đời sống cộng đồng cũng như cá nhân, một thành phố thân thiện với người dân.  


Jan Gehl [Không gian công cộng nhằm thay đổi Cuộc sống công cộng

Với tình trạng dân số bùng nổ như hiện nay khi 66% số người dân toàn cầu sẽ sống tại các đô thị vào năm 2050, ông Gehl cho rằng một thành phố thân thiện với người dân là điều vô cùng quan trọng. 

Để làm được điều đó, những nhà hoạch định chính sách, kiến trúc sư hay các chuyên gia phải đưa người dân làm trung tâm của tư tưởng thiết kế cũng như xây dựng thành phố. Nghe có vẻ kỳ quặc nhưng nhiều thành phố trên thế giới thay vì quan tâm đến người dân lại đi tập trung quy hoạch theo “xe cộ”. 

Thay vì chú trọng vào nhu cầu của người dân, những nhà quy hoạch lại để ý làm sao cho thành phố chứa được càng nhiều xe càng tốt, chạy xe không bị tắc đường, có nhiều chỗ đỗ xe hơn...

Kiến trúc sư Gehl không đồng ý với cách quy hoạch như vậy, theo ông các kiến trúc sư cần làm cho thành phố trở nên dễ sống, lành mạnh, an toàn và bền vững hơn thay vì chỉ quan tâm đến giao thông như vậy. 

Với những kinh nghiệm của mình, dưới đây là 5 vấn đề mà các thành phố hiện nay nên lưu ý khi quy hoạch. 


Venice

1- Ngừng kiểu quy hoạch “tận dụng giá xăng rẻ”

Đối với ông Gehl, hai vấn đề biến đổi khí hậu và sức khỏe người dân nên được các nhà quy hoạch lưu tâm từ thời điểm hiện nay. 

Trong suốt 50 năm qua, các nhà quy hoạch trên toàn thế giới hầu như đã đi theo lối mòn và ép buộc người dân phải ngồi trong các tòa nhà văn phòng, ngồi trên phương tiện giao thông hay phải ở trong nhà. Thành phố hầu như không xây dựng nhiều chỗ vui chơi hay để người dân có cơ hội tham gia các hoạt động ngoài trời.

Hầu như tất cả những thành phố lớn hiện nay đều ngập trong những tòa nhà cao tầng, đường cao tốc, tàu điện ngầm...mà không thể có một môi trường sống nên thơ như Venice.

Tất nhiên cuộc sống khá sôi động và không thể bắt mọi thành phố quy hoạch như Venice, nhưng việc ép buộc mọi người lao đầu vào công việc và di chuyển sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người dân.

Ông Gehl cho rằng sự phổ biến của các phương tiện giao thông và giá xăng rẻ đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến quy hoạch thành phố trong suốt 60 năm qua. Họ xây những khu vực ngoại ô rộng lớn, những khu đô thị nằm ven các trung tâm và cho rằng mọi thứ như thế là hợp lý bởi người dân có thể dễ dàng di chuyển bằng các phương tiện giao thông.

Dẫu vậy, nếu giá xăng không còn rẻ, kiểu quy hoạch này sẽ trở nên rất tệ. Hơn nữa, tạp chí y tế The Lancer đã từng khảo sát và cho thấy những người sống ở trung tâm đô thị có tuổi thọ cao hơn những người sống tại các khu đô thị ven trung tâm. Nguyên nhân là những người ở trung tâm đô thị đi bộ nhiều hơn trong khi người dân sống ở ngoại vi lại đi xe nhiều hơn.


Brasilia 

2- Thúc đẩy đời sống cộng đồng

Năm 2009, thủ đô Copenhagen của Đan Mạch phát động chiến dịch biến thành phố thành nơi đáng sống nhất trên thế giới. Theo đó, những nhà quy hoạch đô thị cho rằng người dân nên bước ra khỏi nhà, khỏi văn phòng và khỏi chiếc xe hơi của họ nhiều hơn. Việc đi bộ quanh thành phố, thăm quan những khu vực công cộng sẽ cải thiện được đời sống cộng đồng trong xã hội. 

Với quan điểm này, người dân có thể bảo vệ được môi trường hơn khi tiêu tốn ít điều hòa và xăng xe hơn. Họ cũng sẽ gắn kết với cộng đồng hơn cũng như có sức khỏe tốt hơn nhờ vận động.

Hơn thế nữa, nhiều người đi bộ và tận hưởng vẻ đẹp của thành phố cũng khiến an ninh trở nên tốt hơn cũng như thu hút được nhiều khách du lịch hơn.

Nhờ kiểu quy hoạch này, mọi người trong thành phố có thể gặp nhau trực tiếp nhiều hơn là phải nói chuyện qua các ứng dụng liên lạc hoặc điện thoại, nhờ đó cải thiện môi trường sống. 


Copenhagen
 [xem thêm

3/ Tạo những trải nghiệm mới một cách tối đa cho người dân 

Thời kỳ sơ khai, loài người là một giống động vật đi trên đất và các giác quan của loài người khi đó được thiết kể để chỉ để cảm nhận những chuyển động chậm, vào khoảng 4,8 km/giờ. 

Vì vậy, ông Gehl cho rằng một quy hoạch hợp lý cần dựa trên các giác quan của con người và tạo những trải nghiệm tối đa cho người dân.

Trong nhiều năm, con người đã bỏ qua những trải nghiệm vốn có để quy hoạch thành phố tập trung vào giao thông. Hiếm có thành phố nào như Venice, nơi người dân có thể đi bộ chậm rãi và hưởng thụ những trải nghiệm, những cảm giác mới lạ từ môi trường sống xung quanh.


Venice

4- Thiết kế hệ thống giao thông giá rẻ

Công bằng xã hội hiện nay là điều khó đạt được khi nhu cầu bất động sản tăng cao còn giá nhà thì nóng lên từng ngày.

Nghe có vẻ nực cười, nhưng chính yếu tố này cùng với sự bất bình đẳng thu nhập xã hội đã đẩy những người thu nhập thấp ra các vùng ngoại ô, qua đó buộc họ phải chi tiêu nhiều hơn cho việc di chuyển vào trung tâm để làm việc.

Vì vậy, các nhà quy hoạch nên tạo điều kiện cho những loại giao thông giá rẻ và cố gắng giúp những người thu nhập thấp giảm chi cho giao thông, tạo nên một môi trường sống thoải mái hơn. 


Bogota [xem thêm

5- Cấm xe hơi

Rõ ràng, thời kỳ hoàng kim của xe hơi đã qua. Sau khi tăng trưởng số lượng xe hơi trên toàn thế giới đạt đỉnh vào năm 2009, chúng đã dần giảm tốc thời gian sau đó. 

Hãy nhìn Singapore để thấy xe hơi không phải là lựa chọn tốt nhất cho quy hoạch những thành phố lớn. Diện tích đất nơi đây đã hết và chả còn chỗ cho những chiếc xe hơi. Thay vào đó, đi bộ và xe đạp lại là những giải pháp hữu hiệu hơn cả. 


Singapore
 [xem thêm

Theo ông Gehl, những giải pháp như ô tô tự hành không giúp giải quyết được vấn đề thiếu không gian hay không thân thiện với đời sống người dân. Thay vào đó, các nhà quy hoạch nên hướng tới việc loại bỏ xe hơi và sử dụng những phương tiện giá rẻ khác. Việc quá chú trọn vào dòng xe tự động hay xe điện hay những sản phẩm tương tự chỉ có lợi cho ngành ô tô mà chẳng lợi ích gì cho đời sống người dân. 

Hoàng Nam 
(Trí Thức Trẻ)

Từ chiến lược phát triển các làng quê tại Pháp đến mô hình “Làng đô thị Xanh” Đà Lạt

Chiến lược phát triển vùng lãnh thổ Pháp bằng cách phát triển thương hiệu và chiến lược marketing lãnh thổ, được hỗ trợ bởi một mạng lưới các nhân tố và nhà đầu tư kinh tế. Nâng cao tính hấp dẫn của khu vực bằng cách phát huy giá trị mang tính "vùng miền" và củng cố cơ cấu kinh tế-xã hội. Theo đó, các di sản văn hóa và thiên nhiên của Đà Lạt và vùng phụ cận sẽ đóng vai trò trung tâm trong chiến lược kinh tế của các làng sinh thái trong tương lai. Để chiến lược thành công, việc cần thiết mà chính quyền thành phố và các bên liên quan cần làm là nhận dạng các yếu tố cấu thành của di sản để phát triển và trang bị cho mình những công cụ phát huy bảo tồn theo những kinh nghiệm của Pháp. Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở hạ tầng và du lịch cũng cần phải đáp ứng được nhu cầu của du khách.  


Không gian nông nghiệp sạch làng di sản đô thị xanh Gignan (CH Pháp)

Hiện nay, Pháp vẫn là một trong những điểm đến du lịch hàng đầu thế giới, thu hút du khách trong nước và quốc tế đến để chiêm ngưỡng di sản vật thể và phi vật thể có giá trị cao. Điều này có được là nhờ được hỗ trợ và đầu tư mạnh mẽ thông qua các chính sách của chính phủ trong việc khám phá, phát huy và nâng cao giá trị làng quê. Nói một cách tổng quát là “sự kết hợp giữa yếu tố địa phương và kỹ năng biến bản sắc sẵn có trở thành yếu tố sinh lời”. Đặc biệt, khi đứng trước nguy cơ giảm dân số và tính bấp bênh trong cơ cấu kinh tế nông thôn, thì du lịch đã trở thành yếu tố đóng vai trò trung tâm trong quá trình phục hồi và phát triển các làng quê Pháp, nơi mà khách du lịch yêu thích và bị thu hút bởi sự tiếp đón nồng nhiệt của người dân bản địa cũng như nhờ duy trì một môi trường kinh tế – xã hội phong phú, sống động (thông qua hoạt động sản xuất nông nghiệp, hàng thủ công địa phương, lễ hội …) và bảo tồn chất lượng môi trường tự nhiên và tài nguyên. Những kinh nghiệm xây dựng chiến lược phát triển các mô hình làng quê thịnh vượng có thể xem là những bài học kinh nghiệm tốt cho việc triển khai mô hình đô thị làng quê xanh tại thành phố Đà Lạt trong thời gian tới. 

Ba định hướng chính trong việc phát huy giá trị các “miền quê” tại CH Pháp

Xác định các yếu tố cấu thành và tính đặc trưng của “miền quê”: Việc hoạch định chiến lược phát triển du lịch làng đô thị xanh chỉ có thể được thực hiện thông qua việc đánh giá hiện trạng lãnh thổ và có nhận thức đúng đắn về tính đặc trưng/bản sắc khu vực. Việc này được thực hiện để xác định “bộ mặt” của các miền quê khác nhau tại Pháp.


Trung tâm làng di sản đô thị xanh Gignan (CH Pháp) 

Khái niệm “miền quê” được định nghĩa bởi: (1) Một khu vực cụ thể với cơ cấu đô thị, di sản kiến trúc và cảnh quan (cấu trúc không gian làng, các công trình di tích, cụm công trình, không gian công cộng, các nhà văn hóa nhỏ ở nông thôn, di vật khảo cổ, các địa danh và danh lam thắng cảnh, các đồn điền và khu vực trồng trọt, đường xá, vv…), tính năng và cách thức sử dụng chúng. Một khu vực còn được gọi là miền quê nếu khu vực đó có các hoạt động khai thác mang tính đặc trưng vùng miền (2) một tập hợp các thành phần kinh tế và hình thức tổ chức sản xuất cụ thể (hợp tác xã nông nghiệp, trồng nho sản xuất rượu, hoạt động chế biến sữa, hiệp hội các nghệ nhân…), các cách thức/công cụ để đảm bảo tính bền vững trong phát triển kinh tế của vùng lãnh thổ, dẫn đến là (3) các sản phẩm đặc trưng và được nhận dạng qua nguồn gốc của sản phẩm.

Các đặc tính của từng vùng lãnh thổ, ngành nghề/hoạt động kinh tế đặc trưng, và các sản vật nên được bảo tồn và nâng cao giá trị thông qua các công cụ và quy chuẩn tiêu chuẩn, xác định các yếu tố gây bất lợi trong các tài liệu, văn bản quy định về quy hoạch đô thị.

Các ví dụ vùng Diois với các hoạt động khai thác mang tính đặc trưng như:

• Ruộng nho AOC và Clairette de Die Vineyard, sản xuất bởi nhà máy rượu hợp tác xã Die.
• Các loại cây gia vị và cây thuốc (góp phần đa dạng hóa hoạt động kinh tế trong vùng từ nhiều năm nay). Chiết xuất thực vật, nước hoa, tinh chất được bán trên toàn châu Âu.
• Hoạt động chăn nuôi cừu và tập quán thay đổi địa điểm chăn thả theo mùa.

Các dự án phát huy giá trị di sản: yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch

Những bài học kinh nghiệm của Pháp đã cho thấy việc tôn trọng, bảo vệ và phát triển các ngôi làng chỉ có thể được thực hiện hiệu quả nếu có các quy định cụ thể cũng như đưa các yếu tố bất lợi gây cản trở vào trong các dự án quy hoạch đô thị (Quy hoạch Đô thị địa phương). Lấy ví dụ ở Pháp, có thể kể đến “Khu vực bảo vệ di sản kiến trúc, đô thị và cảnh quan” (tương lai sẽ được gọi là “Khu vực phát huy kiến trúc và di sản” – AVAP) được xác định và phát triển một cách chủ động ngay từ những giai đoạn đầu và chịu sự quản lý của chính quyền địa phương, với sự hỗ trợ của Hiệp hội Kiến trúc sư công trình Pháp.

Công cụ quy hoạch này giúp cho chính quyền địa phương có thể nhận dạng, trên toàn bộ lãnh thổ của mình, đâu là di sản và cảnh quan địa phương, đồng thời để xây dựng và phát triển một dự án toàn diện nhằm bảo tồn và nâng cao bản sắc đã có. Những khu vực khoanh vùng bảo tồn có thể là khu vực xung quanh các công trình di tích lịch sử, trong các khu phố và các địa điểm cần bảo tồn hoặc phát huy nhờ giá trị về mặt thẩm mỹ hoặc lịch sử.

Các khu vực bảo tồn này có những yêu cầu cụ thể của kiến trúc và cảnh quan (ví dụ như cấm quảng cáo ở khu vực này) trên tinh thần phát triển bền vững (tiết kiệm năng lượng, phát triển năng lượng tái sinh). Cũng theo định hướng này, khu vực bảo tồn Di sản kiến trúc, đô thị và cảnh quan được coi là một công cụ đặc biệt thích hợp cho các vùng miền nông thôn, và có thể phù hợp với bối cảnh của Việt Nam, cũng như đáp ứng yêu cầu của dự án Làng đô thị xanh.Ví dụ khu vực phát huy kiến trúc và di sản tại Grigan (CH Pháp).

Các yếu tố xác định bản sắc lãnh thổ (thương hiệu lãnh thổ, các yếu tố hấp dẫn)

Tầm quan trọng của bản sắc lãnh thổ, Uy tín và hình ảnh tại thời điểm với những dữ liệu khách quan hiện có: Cụ thể là phải trả lời được các câu hỏi: Tôi có được biết đến? Được công nhận? Được yêu thích? Tại sao? Vì những gì tôi có?

Xác định vị thế của mình là một hành động có ý thức mà thông qua đó chúng ta muốn xây dựng danh tiếng và hình ảnh của mình. Nó đồng thời là một cơ hội để tự vấn về bản sắc của mình trong mối quan hệ với bên ngoài. Nó là cả một quá trình xây dựng được thực hiện thông qua những bài phát biểu, và hoạt động truyền thông, và thông qua thực tế trong việc cung ứng sản phẩm địa phương.

Chiến lược phát triển vùng lãnh thổ Pháp bằng cách phát triển thương hiệu và chiến lược marketing lãnh thổ, được hỗ trợ bởi một mạng lưới các nhân tố và nhà đầu tư kinh tế.

Như vậy, việc thương hiệu được ghi nhận là một yếu tố bảo đảm chất lượng cho người tiêu dùng/khánh du lịch – đó là bảo đảm việc tiếp cận các địa điểm có giá trị và cung cấp dịch vụ có chất lượng – điều này giúp định hình bản sắc một vùng đất và tạo cơ sở để khu vực có bản sắc riêng được ghi danh vào một mạng lưới, hay một hiệp hội cụ thể nhằm nhận một số lợi ích nhất định. Ví dụ, trong số các danh hiệu ở Pháp, thì danh hiệu “những ngôi làng đẹp nhất ở Pháp” giúp thành phố được cấp thêm nguồn kinh phí hỗ trợ từ nhà nước và có quyền thu thêm thuế du lịch mang đến cho họ một nguồn thu bổ sung.

Việc ghi nhận danh hiệu ảnh hưởng đến toàn bộ các nhân tố trong tổng thể, cụ thể là như mối quan hệ giữa người sử dụng dịch vụ và các nhà sản xuất địa phương. Lấy ví dụ trong quá trình đánh giá thương hiệu “Du lịch miền quê” cho một doanh nghiệp ở St Chinian, trong đó đồng nhất quyền lợi của người hưởng dịch vụ du lịch và người trồng nho.

Điều cuối cùng, các sản phẩm của sản xuất nông nghiệp tại địa phương cũng đóng vai trò tạo nên sự khác biệt, bằng cách kiểm soát việc đặt tên thương hiệu theo nguồn gốc xuất xứ quy định (AOC), cho phép các doanh nghiệp địa phương có thể tăng thêm doanh thu một cách có cơ sở.

Định hướng tăng sức hấp dẫn du lịch và phát triển đô thị bền vững của dự án làng đô thị xanh tại TP. Đà Lạt 

Với nền tảng là một bề dày lịch sử phong phú và sôi động, vùng lãnh thổ được đề cập ngày nay còn phải được hoạch định để có thể phát triển cân bằng, có khả năng dung hòa chất lượng cuộc sống với công cuộc phát triển kinh tế, đồng thời tôn trọng tài nguyên thiên nhiên và phương thức sống mang tính bản địa/vùng miền của lãnh thổ đó.


Thiết kế mô hình Nông trại đô thị tại Singapore 

Phương pháp tiếp cận tích hợp định hướng thiết kế mô hình làng đô thị xanh

Nâng cao tính hấp dẫn của khu vực bằng cách phát huy giá trị mang tính “vùng miền’’ và củng cố cơ cấu kinh tế-xã hội. Các di sản văn hóa và thiên nhiên của Đà Lạt và vùng phụ cận sẽ đóng vai trò trung tâm trong chiến lược kinh tế của các làng sinh thái trong tương lai. Để chiến lược thành công, việc cần thiết mà chính quyền thành phố và các bên liên quan cần làm là nhận dạng các yếu tố cấu thành của di sản để phát triển và trang bị cho mình những công cụ phát huy bảo tồn theo những kinh nghiệm của Pháp đã trình bày ở trên. Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở hạ tầng và du lịch cũng cần phải đáp ứng được nhu cầu của du khách. Việc kinh doanh du lịch nên được phối hợp một cách linh hoạt với các hoạt động nông nghiệp và thủ công có sẵn trên địa bàn (sản xuất lương thực ngắn hạn để cung cấp cho các cửa hàng/khách sạn và nhà hàng; tiếp thị hàng thủ công địa phương…)

Phát huy hình thức nhà ở riêng mật độ cao, trong số các tiêu chí được liệt kê, hình thức nhà ở riêng có xây vườn đã được đề xuất, theo như “phong cách sống” ở nông thôn. Xét nhu cầu cấp bách của phát triển bền vững và với kinh nghiệm có được thông qua các dự án tương tự tại Pháp, các hình thức ở mới có thể được đề xuất mà vẫn đảm bảo không ảnh hưởng đến không gian bản sắc đã xác định.

Tổ chức không gian sống tốt hơn thông qua đa dạng hóa và xen kẽ chức năng sống với các hoạt động xã hội: Sự đa dạng hóa và xen kẽ chức năng sống với các hoạt động xã hội, cụ thể là các chức năng đô thị quan trọng (nhà ở, hoạt động trồng trọt, khai thác kinh tế, khách sạn, nhà hàng, hoạt động thương mại, dịch vụ…) là yếu tố vô cùng cần thiết để đảm bảo tính trù phú và sống động cho hình mẫu Làng đô thị xanh trong tương lai.

Kết nối lãnh thổ (Giao thông và phương thức đi lại: Khi ngôi làng nằm ở khu vực phụ cận với mạng lưới giao thông hiện hữu, thì việc kết nối với khu vực phải được thực hiện để đảm bảo sự thành công của phát triển đô thị và phát triển kinh tế của ngôi làng. Do đó, công tác quy hoạch giao thông và vận tải là yếu tố vô cùng cần thiết để tổ chức mạng lưới di chuyển bằng xe cơ giới và thô sơ của người dân, bảo đảm tính lưu thông trong toàn khu vực và kiểm soát các hạn chế trong chuyên chở và vận tải, để không ảnh hưởng đến việc giao-nhận hàng hóa (sản phẩm địa phương).

Xác định các dịch vụ có thể cung cấp thông qua tính đa dạng sinh học và nâng cao giá trị các địa danh bằng cách thành lập khu vực giới hạn xanh và sạch: Vùng Đà Lạt mở rộng bao gồm toàn bộ không gian giàu giá trị sinh thái: núi Langbiang, hồ Dankia, Tuyền Lâm, Pernn, Đại Ninh và rừng bảo tồn – di sản cảnh quan thiên nhiên cần được gìn giữ và phát triển. Tính mẫu mực về môi trường và sinh thái của làng đô thị xanh chỉ có thể được đảm bảo thông qua việc tuân thủ hoặc phục hồi các khu vực giới hạn xanh và sạch của địa danh.

Không gian trồng trọt (Công cụ phát triển đô thị): Các không gian trồng trọt phải được coi là nguồn tài nguyên không tái sinh được và là công cụ trong chiến lược phát triển bền vững của dự án. Những khu vực này đảm bảo chức năng thực sự về bảo tồn đa dạng sinh học (hành lang sinh thái), cung cấp thực phẩm, đồng thời còn để hạn chế mở rộng đô thị. Việc nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp, bằng cách kiểm soát việc đặt tên sản phẩm theo nguồn gốc/xuất xứ hoặc đạt chứng chỉ về an toàn sinh học sẽ góp phần tăng thu nhập cho người dân địa phương và làm cơ sở để nâng cấp cho sản phẩm địa phương trở thành thương hiệu đạt tiêu chuẩn chất lượng.

Các điều kiện tiên quyết trong quá trình hoạch định chiến lược du lịch sinh thái

Xác định vai trò của dịch vụ trong nền kinh tế du lịch của TP Đà Lạt và tỉnh Lâm Đồng: Tham vọng trong việc đề xuất Đà Lạt trở thành một địa danh quan trọng về du lịch của Việt Nam (trong nước và quốc tế) với các mục tiêu sau: Xác định một vị thế rõ ràng, khác biệt, với các loại hình dịch vụ cung cấp và không cung cấp; Hướng tới hình ảnh cao cấp và chất lượng nhằm đẩy mạnh hơn nữa mối quan hệ giữa thành phố/ làng quê và góp phần khẳng định mạnh mẽ Đà Lạt chính là nước Pháp thu nhỏ tại Việt Nam; Đa dạng hóa trong cung cấp dịch vụ và sản phẩm để phát huy tiềm năng vị thế vị trí đã xác định; Quảng cáo dịch vụ nhắm tới thị trường quốc tế, nhằm phục vụ đối tượng khách du lịch đặc biệt có thời gian du lịch ngắn và trung bình.

Chiến lược phát triển du lịch và kinh tế đầy tham vọng bằng cách phát huy các giá trị di sản và văn hóa ở quy mô lãnh thổ nói trên cần phải được quan tâm, chú trọng đến các yếu tố then chốt sau: Xác định và hình thành bản sắc một cách chủ động và hấp dẫn; Có sản phẩm tham quan, du lịch độc đáo, toàn diện; Cung cấp các dịch vụ và tiện nghi phục vụ nhu cầu đặc biệt; Tăng cường liên kết về giao thông với vùng lãnh thổ nói chung và khu vực cảnh quan thiên nhiên nói riêng.

Xác định và đưa nghệ thuật sống thành một nét văn hóa, bản sắc hấp dẫn: Việc nhận dạng và hình thành bản sắc một vùng miền có thể được bao gồm nghệ thuật sống đặc trưng của vùng miền đó. Chủ đề này liên quan tới tính kết nối giữa các thời kỳ khác nhau của Đà Lạt, sự phong phú về lãnh thổ và hình ảnh mà Đà Lạt có được qua cảm nhận của bên ngoài; Đặc biệt khi thành phố đang hướng tới mục tiêu thu hút khách hàng mới và du khách quốc tế.

Nghệ thuật sống theo phong cách Pháp bao gồm những yếu tố tạo nên chất lượng sống tại Đà Lạt: Một môi trường sống lành mạnh với nhiệt độ ôn hòa và dịu mát quanh năm; Nhiều công trình di sản kiến trúc phong phú theo phong cách Pháp; Trồng nho và dâu tây là một trong những hoạt động trồng trọt điển hình của vùng; Vẻ huy hoàng lộng lẫy của cảnh quan thiên nhiên có thể quan sát thấy từ mặt đất và các điểm nhìn đẹp ngay trong thành phố: Làng, cảnh quan hài hòa, hồ, công viên hoa vv … ; Chuyên môn và kinh nghiệm được công nhận rộng rãi trong nghề làm vườn, trồng hoa, nghiên cứu nông nghiệp, mà theo thời gian, đã trở thành biểu tượng thực sự của thành phố.

Xác định vị thế và hình ảnh thông qua chiến lược tiếp thị bài bản và có mục tiêu rõ ràng. Đối với thị trường du lịch quốc tế, đặc biệt là nguồn du khách tới từ các nước đang phát triển, thì sức hút phong cách Pháp liên hệ chủ yếu đến “nghệ thuật sống” của người Pháp, vốn được cả thế giới công nhận thông qua thị trường hàng xa xỉ, các sản phẩm hạng sang với lối sống phong cách đặc trưng và hình ảnh thủ đô Paris.

Việc sử dụng hình ảnh Đà Lạt và cách tiếp cận mô hình “Làng đô thị xanh” như một hình thức đề xuất đặc biệt phục vụ cho mục tiêu xây dựng hình ảnh cao cấp, xa xỉ, đi kèm với chiến lược tiếp thị hợp lý và hiệu quả. 

Xác định hình ảnh thông qua việc đặt lợi ích khách hàng làm mục tiêu thực hiện chiến lược: Vai trò và vị trí của khách du lịch cần phải được củng cố trong quá trình thiết kế và cung cấp dịch vụ, để tối ưu hóa các cách thức tiếp cận/cảm nhận vẻ đẹp cảnh quan của người sử dụng dịch vụ, mang lại cho họ những trải nghiệm thực sự, chứ không chỉ đơn thuần là các tour du lịch đơn giản và mang tính hình thức theo kiểu cũ.

Tính cần thiết của việc giao tiếp với thị trường khách du lịch, nhằm mục đích thu hút du khách đến tham quan: Trong mọi trường hợp, chiến lược tiếp thị cần phải quảng bá được cái cốt lõi, những điểm nổi bật, yếu tố có ý nghĩa một cách dễ hiểu trước công chúng. Nhận dạng bản sắc chính là lựa chọn hình ảnh quảnG bá cho mình, do đó, thông điệp quảng bá phải đơn giản, dễ đọc, dễ hiểu để phù hợp với nhiều đối tượng khách hàng khác nhau. Thời gian địa điểm tiếp cận với người có nhu cầu có thể là ngay tại nhà họ, khi họ đang lưỡng lự chọn lựa chuyến đi của mình, hay khi họ đang thăm quan, tìm kiếm trên mạng… Một cách tiếp thị khác là có thể thực hiện các bài phát biểu trước công chúng về các dịch vụ với nội dung được điều chỉnh tùy theo yêu cầu khác nhau của nhiều đối tượng khách hàng… 

Bên cạnh đó, khi triển khai các hoạt động tiếp thị, cần phải phân biệt các bài phát biểu về định hướng chung, tập trung vào giá trị và hình ảnh cốt lõi muốn hướng tới, với các thông điệp phát tán trên mạng được viết với nội dung khác nhau để phục vụ các đối tượng khách hàng khác nhau./. 

Antoine MOUGENOT - Tổng giám đốc công ty AREP South ASIA 
(Tạp chí Kiến trúc Việt Nam)  

 

Không gian thân thiện & không gian công cộng

Sự thân thiện đến từ những điều bình thường giản dị, từ những cảm xúc bất ngờ, từ những sự thăng hoa hay những ngẫu hứng đời thường. Chính bởi vậy mà những không gian công cộng dẫu lạ hay quen đã đi vào lòng người thật thân thiện, thật hòa hợp và thật khó quên. 

Mọi người như nhìn thấy chính mình, nhìn thấy những điều thân quen ở chính những nơi xa lạ. Như một thứ gia vị cần thiết cho cuộc sống, không gian công cộng tồn tại ở đó, bên cạnh chúng ta, mãi mãi với thời gian. 

Từ xưa đến nay, trên thế giới đã tồn tại rất nhiều loại hình không gian công cộng. Từ những quảng trường cực lớn như quảng trường Thời đại ở Mỹ (Times Square - ảnh bên), quảng trường lớn ở Bruxelles - Bỉ (Grand Place), chằng chịt các hướng đi, các không gian với lưu lượng tập trung hàng nghìn người đến những không gian nhỏ nhắn, khiêm tốn mang đậm tính dân gian. Ðó là những con đường nhỏ, những góc làng, không gian sân đình, cổng làng ở làng quê nông thôn. 

Không gian công cộng là những không gian thân thiện, gần gũi với mọi người. Ðó là nơi mà mọi người có thể trò chuyện với nhau, cùng vui chơi, cùng nhau thi thố tài năng. Ðó cũng là nơi mà mọi người có thể mua sắm, ngồi nhâm nhi tách cà phê và đắm mình vào cảnh vật xung quanh. Thậm chí đơn giản hơn, không gian thân thiện có thể xuất hiện lúc mọi người trò chuyện trong khi chờ xe buýt. Với tính chất mở và thân thiện, không gian công cộng đã trở thành những nơi chốn quen thuộc của mọi người, ngoài ngôi nhà của họ. 



Ngoài ra, không gian công cộng còn là những bảo tàng sống động của nghệ thuật điêu khắc, kiến trúc và những nghệ thuật đường phố đầy màu sắc. Các tác phẩm điêu khắc, tranh tường, các trang trí, nghệ thuật sắp đặt đã và đang trở thành những phần không thể thiếu trong cấu trúc không gian công cộng. 

 

Trên các con đường đi bộ, trong các không gian công cộng thậm chí còn lại sự dở dang của các bức tranh vẽ nối nhau bởi các họa sĩ đường phố (Graffiti art), lại có cả nghệ thuật trình diễn (Performance Art), của những nghệ sĩ xiếc tài ba, của những tay chơi muốn thể hiện mình. 

 

Không gian công cộng còn thể hiện rất rõ tính nhân văn thông qua các cách thức mà người ta thể hiện trên nó. Ðó là nơi trẻ em có thể phát huy năng khiếu nghệ thuật của mình, nơi các cụ già tập dưỡng sinh, nơi những đôi tình nhân khoác tay nhau dạo phố.

 

Khác với việc ngắm nhìn các tác phẩm nghệ thuật trong phòng kín, trong không gian công cộng, vẻ đẹp của các tác phẩm nghệ thuật công cộng không chỉ đem lại cảm giác thoải mái và thích thú, lẫn tò mò cho người xem mà nó còn kết hợp hài hòa với không gian thuần tuý cùng đem lại cho con người những cảm giác mới lạ. Những sáng tạo và biến tấu tuyệt vời của nghệ thuật công cộng (Art public) đã góp phần làm nên những không gian công cộng ấn tượng, khó quên.

Ta cũng có thể bắt gặp những ngẫu hứng đáng yêu được thể hiện trên những không gian công cộng khi được sự ủng hộ của đám đông. Trong không gian đó, con người như hòa cảm với nhau, cùng nhau thực hiện những động tác, những biến tấu kỳ quặc có, đáng yêu có, cả những buồn vui, giận ghét,... đều được thể hiện.

Trong cấu trúc đô thị, không gian công cộng ngoài việc góp phần định hình các trục giao thông, còn là những biểu tượng của một khu phố, một thành phố, hay của cả một quốc gia. Chính thông qua các không gian công cộng, nghệ thuật công cộng mà những nét bản sắc, độc đáo trong văn hóa vùng, thành phố được biểu hiện. Ví dụ, người ta có thể nhớ đến Paris thông qua sự hoành tráng của tháp Eiffel trên công viên Champ de Marne. Hay một Vatican với những thức cột cổ điển cao vút, những không gian rộng mênh mông đem lại cảm giác vô cùng khi ta đến với tôn giáo. 

Người ta nhớ Melbourne bởi sự tươi mới, sống động của nghệ thuật trình diễn đường phố Moomba, hay bởi lòng mến khách của người dân Australia khi du khách đến nơi đây thông qua những hình thức thể hiện nhân văn tại những không gian công cộng. Tầm quan trọng của những không gian công cộng trong cấu trúc đô thị cũng như trong mọi người đã được khẳng định. ý nghĩa của nó như vậy đã vượt qua cả tính chất của một hình thức không gian thông thường.

 

KTS Nguyễn Vũ Minh ( Khoa Kiến trúc - Ðại học Khoa học Huế )